Đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ xử lý mới trước và sau thu hoạch vào cải thiện chất lượng và nâng cao khả năng bảo quản cho quả nhãn và quả măng cụt Bến Tre

• Tổ chức chủ trì nhiệm vụ:

- Viện cây ăn quả miền Nam.

- Địa chỉ: Km 1975, ấp Đông, xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

- Điện thoại: 0733893129.

• Kinh phí thực hiện: 427,59 triệu đồng

• Họ tên chủ nhiệm nhiệm vụ và người tham gia chính:

- Ông Nguyễn Văn Phong.

- Học hàm, học vị: Tiến sĩ.

- Điện thoại: 0733893129.

* Người tham gia

- TS. Nguyễn Văn Phong - Viện CAQMN - Chủ nhiệm đề tài.

- ThS. Nguyễn Thanh Tùng - Viện CAQMN.

- ThS. Đặng Linh Mẫn - Viện CAQMN.

- KS. Dương Thị Cẩm Nhung - Viện CAQMN.

- KTV. Đỗ Văn Ơn- Viện CAQMN.

- ThS. Nguyễn Khánh Ngọc - Viện CAQMN.
- ThS. Trần Đinh Mạnh - Viện CAQMN.

- KTV. Ngô Hùng Vũ - Viện CAQMN.

• Mục tiêu nội dung chính của nhiệm vụ:

Mục tiêu của nhiệm vụ:

Mục tiêu tổng quát
- Xây dựng được một số quy trình xử lý cận thu hoạch và sau thu hoạch cho quả nhãn và măng cụt Bến Tre giúp cải thiện chất lượng và khả năng bảo quản tốt hơn đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước (xuất khẩu).

Mục tiêu cụ thể
- Xác định ra được các xử lý hiệu quả trước thu hoạch làm tăng chất lượng và khả năng tồn trữ sau thu hoạch cho quả nhãn và măng cụt Bến Tre.
- Đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý mới sau thu hoạch đến chất lượng và thời gian bảo quản của hai loại quả này.
- Xây dựng quy trình bảo quản sau thu hoạch cho quả nhãn và măng cụt, theo phương pháp xử lý mới, an toàn và có tỷ lệ hư thối thấp (<7%) và thời gian bảo quản được kéo dài (20 ngày đối với măng cụt) và (28 ngày đối với quả nhãn).

Nội dung chính của nhiệm vụ:

- Nghiên cứu một số tác động của quá trình thu hoạch và cận thu hoạch giúp cải thiện chất lượng và tăng khả năng bảo quản sau thu hoạch trên nhãn.
- Nghiên cứu một số tác động của quá trình thu hoạch đến chất lượng và thời gian bảo quản sau thu hoạch nhãn và măng cụt
- Nghiên cứu xây dựng các quy trình công nghệ bảo quản (theo các phương pháp mới) cho quả nhãn và măng cụt sau thu hoạch

• Kết quả thực hiện:

Kết quả sau 30 tháng thực hiện (từ tháng 6/2013-12/2015), đề tài hoàn thành được tất cả các nội dung đề ra tổng cộng có 12 chuyên đề và 6 hoạt động thí nghiệm trong đó có 3 thí nghiệm thực hiện xử lý cận thu hoạch trên vườn nhãn tiêu da bò. Kết quả nghiên cứu liên quan đến các khía cạnh về cải thiện chất lượng và khả năng bảo quản của nhãn tiêu da bò và măng cụt trong hoạt động sản xuất các loại trái cây an toàn và chủ lực của tỉnh Bến Tre. Kết quả có thể tóm tắt như sau:

 

Về xử lý cận thu hoạch trên nhãn tiêu da bò

 

Việc áp dụng xử lý phun canxi kết hợp boric acid giai đoạn cận thu hoạch với các công thức kết hợp KH2PO4 0,3% + CaCl2 1% (phun giai đoạn 5 ngày; 10 ngày trước thu hoạch); công thức KH2PO4 0,3% +H3BO3 0,2% (phun giai đoạn 5 ngày;  5 và 10 ngày trước thu hoạch) có khả năng hạn chế tốt nấm bệnh phát triển trên quả. Khi phun chitosan kết hợp canxi giai đoạn cận thu hoạch chưa mang lại hiệu quả cao trong việc hạn chế bệnh sau thu hoạch cho quả nhãn. Đối với việc bao trái cho thấy nhãn được bao với bao giấy ở giai đoạn khoảng 22 - 29 ngày trước thu hoạch giúp quả nhãn có màu sắc đẹp, hạn chế nấm bệnh, duy trì được chất lượng tốt trong khoảng thời gian 5-8 ngày sau thu hoạch (bảo quản ở 20 ̊C).         

Các vấn đề thu hoạch và xử lý sau thu hoạch trên quả nhãn và măng cụt


TRÊN NHÃN TIÊU DA BÒ


Về chỉ số độ chín thu hoạch

 

Về chỉ số thu hoạch: nhãn tiêu da bò giai đoạn thích hợp để thu hoạch 81-84 ngày sau đậu quả khi vỏ có màu vàng da bò sáng hoặc vàng hơi nâu, trái căng tròn vỏ nhẵn có mùi thơm nhẹ, trọng lượng quả đạt 12g, hàm lượng tổng chất rắn hoà tan 20-21%. Ở giai đoạn này khả năng bảo quản nhãn đạt giá trị tối ưu so với các độ chín khác với mức độ bệnh thấp nhất (1,07 và 0,75) và mức độ hóa nâu có giá trị thấp nhất 1,06 đồng thời sắc vàng vẫn duy trì sau 6 ngày tồn trữ nhiệt độ 20 ̊C.

 

Thời điểm thu hoạch và đưa vào bảo quản.

 

Việc trì hoãn thời gian đưa sản phẩm ngay sau khi thu hoạch vào xử lý bảo quản tác động ý nghĩa đến sự suy giảm và khả năng bảo quản nhãn sau thu hoạch như sự thay đổi màu vỏ, tỷ lệ hóa nâu, bệnh và thành phần sinh hóa của trái. Trong đó, thời gian 4 đến 8 giờ từ khi thu hoạch đến xử lý bảo quản là thời gian tốt nhất để duy trì màu sắc vỏ với tỷ lệ hóa nâu, bệnh thấp và chất lượng chưa có sự thay đổi nhiều.

 

Các vấn đề xử lý sau thu hoạch trên nhãn tiêu da bò

 

Về việc áp dụng các chất bảo quản an toàn sau thu hoạch trên nhãn tiêu da bò có tác dụng tích cực duy trì màu sắc vỏ nhãn trong tồn trữ.

 

Xử lý nhiệt

 

Với phương pháp xử lý mưa nước nóng nhiệt độ xử lý với 52 ̊C thời gian 30 giây đến 60 giây đã có hiệu quả làm chậm sự phát triển của nấm bệnh duy trì chất lượng đến 24 ngày sau khi thu hoạch.

 

Các chất bảo quản an toàn

 

Các chất bảo quản an toàn: acid HCl nồng độ thấp, dung dịch chitosan và citrex. Kết quả ghi nhận nhãn được xử lý acid HCl có hiệu quả trong việc giảm mức độ hóa nâu, tỷ lệ thối hỏng xử lý ở nồng độ 0,075% thời gian 2 phút duy trì chất lượng sau 26 ngày bảo quản nhiệt độ 5 ̊C. Nhãn nhúng trong dung dịch chitosan hiệu quả ở nồng độ 1,0% (pH =3,3) thời gian nhúng 2 phút giúp cải thiện màu sắc và duy trì chất lượng thông qua làm chậm sự biến màu vỏ, ổn định các thành phần sinh hóa (oBrix, acid) tốt đến 21 ngày bảo quản ở 5 ̊C. Với hình thức kết hợp nhãn được nhúng trong HCl nồng độ 2% và thời gian 3 phút sau đó nhúng trong dung dịch citrex 0,5% (pH=3,3) thời gian 2 phút cũng cho kết quả tương tự.  

 

Sử dụng các chất xử lý kết hợp bao bì trong bảo quản

 

Sử dụng bao vi lỗ PP 5 kim tỏ ra hiệu quả ngăn chặn quá trình thoát hơi nước giảm hao hụt khối lượng. Khi xử lý HCl nồng độ 0,075% thời gian nhúng 2 phút kết hợp bao PP 5 kim phát huy hiệu quả hơn trong việc duy trì chất lượng nhãn đến 30 ngày với hao hụt khối lượng rất thấp 0,92%, giá trị thương phẩm chấp nhận được với chỉ số hóa nâu thấp 2,77 điểm, tỷ lệ thối hỏng 5,70%, thành phần sinh hóa bên trong ổn định với hàm lượng tổng chất rắn hòa tan 20,73%.

 

Khi nhãn được xử lý với HCl nồng độ 4% thời gian nhúng 20 phút có hiệu quả làm cho màu sắc quả nhãn có màu vàng sáng đến thời điểm 30 ngày với chỉ số hóa nâu và tỷ lệ bệnh thấp tương ứng 0,83 điểm và 2,16%, hàm lượng sinh hóa ổn định, tuy nhiên hao hụt khối lượng rất cao 22,25% và có thể áp dụng nếu thị trường tiêu thụ chấp nhận.

 

TRÊN QUẢ MĂNG CỤT


Về chỉ số độ chín thu hoạch măng cụt

 

Chỉ số độ chín: măng cụt giai đoạn thích hợp thu hoạch 102-106 ngày sau nở hoa (NSNH) quả chuyển màu hồng đỏ đến màu đỏ tím và tím đậm khi đó hàm lượng TSS khoảng 18% và acid tổng số 0,5-0,6%. Thu hoạch giai đoạn 102-104 NSNH thích hợp bảo quản dùng cho thị trường tiêu thụ xa. Ở giai đoạn này khả năng bảo quản tốt vẫn còn chấp nhận ở thời điểm 10 ngày khi trữ nhiệt độ 20 ̊C quả có màu tím đen thành phần sinh hoá đạt giá trị tối ưu 18%, hàm lượng acid tổng số 0,5-0,6%, giai đoạn 105 NSNH thích hợp thị trường tiêu thụ gần.

Các vấn đề xử lý sau thu hoạch trên măng cụt


Xử lý nhiệt

 

Xử lý nhiệt (nhúng nước nóng) măng cụt xử lý nhiệt độ 45 ̊C-10 phút cho kết quả tốt trong việc duy trì màu sắc vỏ, không bị thương nhiệt hạn chế hoá gỗ, duy trì chất lượng và kéo dài thời gian bảo quản ở 10 ̊C (14 ngày). Với hình thức mưa nước nóng nhiệt độ 45 ̊C trong 4 phút đã làm chậm sự thay đổi màu sắc lá đài, cuống trong quá trình tồn trữ ở 13 ̊C cũng như đã làm giảm sự hao hụt khối lượng sau 20 ngày bảo và thành phần sinh hóa của trái măng cụt ở nghiệm thức này cũng thay đổi chậm. Đặc biệt là không phát hiện tỷ lệ sơ cứng vỏ quả trước 25 ngày bảo quản.

 

Sử dụng chất bảo quản

 

Về việc áp dụng các chất bảo quản an toàn sau thu hoạch trên măng cụt như acid salicylic, dung dịch chitosan, 1-mcp, trong những chất này chỉ dung dịch chitosan và 1-mcp phát huy tác dụng rõ trong việc duy trì màu sắc lá đài, cuống, giảm hao hụt khối lượng và ổn định thành phần sinh hóa bên trong, trừ acid salicylic chưa có tác dụng rõ ràng. Kết quả cho thấy: măng cụt được nhúng chitosan ở nồng độ 0,25% đã làm chậm sự thay đổi màu sắc lá đài, cuống, giảm sự hao hụt khối lượng và thành phần sinh hóa của trái măng cụt ở nồng độ này cũng thay đổi chậm trong quá trình tồn trữ ở 20 ̊C sau 21 ngày bảo quản.Với 1-mcp khi xử lý ở nồng độ 1 ppm thời gian 8 giờ sau đó bảo quản ở 15 ̊C đã có hiệu quả trong làm chậm sự thay đổi màu sắc vỏ và lá đài giảm sự hao hụt khối lượng, thành phần sinh hóa ổn định đặc biệt là giảm tỷ lệ sơ cứng vỏ quả và đã kéo dài thời gian bảo quản lên đến 30 ngày.

 

Xông với 1-mcp kết hợp với bao bì

 

Măng cụt được bao gói bằng bao bì PP 15 kim (30 vi lỗ) có hiệu quả giảm hóa nâu lá đài, cuống đến 20 ngày tồn trữ không có hiện tượng hóa gỗ. Với hình thức kết hợp măng cụt được xông 1-mcp nồng độ 1 ppm thời gian 8 giờ và bao gói PP 15 kim có hiệu quả trong việc làm chậm sự biến đổi màu sắc vỏ quả với mức độ hóa nâu cuống và tỷ lệ hóa gỗ thấp tương ứng 2,77 điểm và  2,78%; thành phần sinh hóa bên trong ổn định vẫn giữ được giá trị thương phẩm sau 28 ngày tồn trữ nhiệt độ 13 ̊C.

 

Ngoài ra, kết quả thực hiện đề tài cũng góp phần đào tạo được 1 thạc sỹ, đăng và công bố hai bài báo: 1 bài báo khoa học đăng trong hội nghị quốc tế tổ chức tại đại học Bách khoa TPHCM và 1 bài báo đăng tạp chí quốc tế.

 

Tổng hợp các kết quả tối ưu từ các chuyên đề đã thực hiện, đề tài đã hoàn thiện 1 phương pháp xử lý cận thu hoạch cho nhãn tiêu da bò, xây dựng 2 quy trình: 1 quy trình bảo quản sau thu hoạch cho quả nhãn và măng cụt, theo phương pháp xử lý mới, an toàn và có tỷ lệ hư thối thấp (<7%) và thời gian bảo quản được kéo dài (20 ngày đối với măng cụt) và (28 ngày đối với quả nhãn).

 

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện các khảo nghiệm đánh giá về các quy trình quản lý sau thu hoạch nhóm thực hiện (SOFRI) đã tổ chức thành công hội thảo về vấn đề trước trong và sau thu hoạch trên trái cây đặc biệt trên nhãn tiêu da bò tại UBND xã Long Hòa vào ngày 17/11/2015. Cuộc hội thảo đã cung cấp thông tin hữu ích cho nhà vườn và đơn vị thực hiện cũng như các bên liên quan tham dự (doanh nghiệp và đơn vị chủ quản) có định hướng tốt hơn bước tiếp theo.

• Thời gian thực hiện: Từ tháng 7/2013 đến tháng 7/2015