Mô hình đắp đập trữ nước ngọt đối phó hạn mặn trong vườn bưởi da xanh

Anh Nguyễn Văn Tùng, sinh năm 1961 hiện ngụ tại ấp 5, xã Thuận Điền, huyện Giồng Trôm, là một nông dân sản xuất giỏi. Nơi đây, hàng năm nước mặn xâm nhiễm sớm, thường kéo dài 3-4 tháng do ảnh hưởng nguồn nước từ sông Tiền, kênh Chẹt Sậy đổ vào.

Anh canh tác hơn 1 ha với 9 mương vườn và 11 bờ đất, phần lớn trồng bưởi da xanh nhiều lứa khác nhau. Năm 2016, trước tình hình nước mặn kéo dài, gây ảnh hưởng đến trồng trọt và chăn nuôi; Anh đào đất, hàn kín các đầu mương tạo liên hoàn một hệ thống mương thông suốt, đảm bảo không có lỗ mội. Đầu cuối hệ thống mương anh chỉ đặt hai ống nhựa khẩu độ 2 dm có “co van” chủ động đóng, nhưng vào mùa mưa mở suốt cho thông thoát nước ra vào. Khi mùa nắng anh sử dụng một đầu nước ra vào ngay đập chính và khóa kín lúc độ mặn khoảng 0,5%o phía ngoài rạch.

Anh xây kiên cố 1 mặt đập chính cách đường rạch lớn 20 m. Ngoài cùng cách rạch lớn khoảng 5 m có đắp một đập tràn để chứa mực nước cao nhằm cân bằng 2 mặt nước trong và ngoài của mặt đập chính phòng hờ, giảm thiểu, không bị xoáy lỗ mội.

Mặt đập chính xây kiên cố bằng cách thả 2 cây đà ngang sát đáy mương cách nhau 4,5 m. Chờ khi nước kém đóng cốp pha đổ bê-tông tại chỗ tấm dal nằm phía trên cây đà dày 0,8 dm, tạo một tấm dal nằm dọc giữa mương, chiều dài tương đương khoảng cách 4,5 m, chiều ngang tấm dal 1,2 m. Anh xây gạch “20” hai bên tấm dal lên cao 0,8 m cùng 2 đầu 2 bên mang cá.

Xong, tiếp tục đổ bê-tông tại chỗ một tấm dal khác nằm trên, dài khoảng 3 m, cách tấm dal dưới đáy 0,8 m, nằm dọc theo tấm dal phía dưới, tạo “hộp cống” hình hộp dài 0,8 m x 0,8 m x 3 m. Còn lại 0,75 m ở 2 đầu cống 2 bên dễ dàng lên xuống theo dõi mực nước, đóng nắp cống bằng gỗ vào khe ở 2 đầu miệng cống mỗi khi cần đóng kín không cho nước chảy ra.

 

 Đập kiên cố (chính) chứa nước ngọt trong mương vườn của
hộ anh Nguyễn Văn Tùng, ấp 5 xã Thuận Điền, Giồng Trôm.


Hai bên mang cá thân đập bơm cát sông, lấp sâu dưới đáy và vào hông bờ khoảng 1 m, cao bằng mặt hộp cống để không bị xoáy lỗ mội, từ phần trên miệng cống trở lên đấp đất thịt phủ đến mặt bờ không cho nước xoáy mòn lớp đất cát mà cũng không cho nước ngập tràn qua. Phía dưới đáy dọc 2 bên lớp cát có 2 ống nhựa đường kính tròn 1dm, dài 5 m nằm trong cát thân đập nối dài từ trong đập ra ngoài đập, có co để điều chỉnh mực nước, mực nước trong đập thường chứa tối thiểu cao khoảng 0,8 m.

 

 Đập kiên cố (phụ).


Bên trong khoảng ½ diện tích đất lại có một mặt đập khác, xây kiên cố tương tự nhưng nhỏ hơn, miệng cống 0,6 m x 0,6 m x 2,5 m, nó chia làm 2 khu vực mương ngoài, mương trong. Mương trong sâu trữ nước nhiều hơn, lâu bị cạn nước, nuôi một số cây lục bình để khử phèn; khi bơm tát mương ngoài tuyển tôm cá nhỏ nuôi dồn vào mương trong. Có như thế đến lúc nước mặn cao, mương ngoài sử dụng tưới phun hết nước ngọt thì tiếp tục sử dụng nước mương trong. Như vậy, trong hệ thống có cả 2 đập kiên cố và 1 đập tràn.

Nếu khi nhận thấy nước mương trong bị phèn anh dùng thùng nhựa thử pha 5 gr vôi đã nung + 10 lít nước, dùng giấy quỳ đo độ pH so với bảng màu, thấy pH nằm khoảng 6-7 là tốt nhất. Nếu vẫn còn pH < 6 thì pha thêm vôi để nâng độ pH dần dần lên 6-7 là thích hợp. Sau đó tính lượng nước dưới mương, tỷ lệ vôi đã thử mà bón vôi xuống mương để làm cân bằng pH đến trung tính. Tuy nhiên, năm 2016 mương của anh không bị phèn.

Nếu rải vôi lưu ý nên pha 25 kg vôi cùng 20-23 lít nước để rải khỏi bay vôi tứ tung như hạt bụi, hao tốn mà kém hiệu quả. Nếu pha nước 25 lít trở lên thì vôi sẽ tan ra quá nhuyễn cũng bị bụi khó sử dụng, nếu quá nhiều nước thì vôi sẽ bị kết tủa khó hòa tan trong nước. Rải vôi dọc dưới mực nước hai bên hàng mái dầm xa dần ra giữa mương để vôi hòa tan trong nước dần dần.

Đến tháng Chín (âm lịch) anh đặt mua 3.000 con giống tôm càng xanh, 200 con cá bống tượng thả vào cả hai phần đập trữ nước; những tháng đầu cứ 1-3 ngày cho ăn 1-2 kg cá biển vụn, rải dọc theo bờ mương; về sau cứ 1-2 ngày cho ăn thêm 3-4 lon tấm gạo hoặc củ mì, xác cơm dừa; Anh không cho ăn thức ăn công nghiệp, bởi trong đập còn nhiều tép, cá vụn khác ăn tạp tiêu tốn thức ăn nhiều. Dự kiến đến tháng 6-7 âm lịch anh mở nắp cống, thu hoạch tôm loại 1, loại 2 đem bán, tôm nhỏ và cá tai tượng để lại nuôi tiếp đến tháng 11- tháng Chạp thu hoạch tiếp.

Trước đây, cứ cách nhau 2 năm một lần vào tháng 5-6 âm lịch bồi bùn, dọn mương, tát bắt tôm cá. Nguồn thu này cũng 1-2 chục triệu đồng, nhất là tôm càng được nuôi dưỡng, chăm sóc, cho ăn thường xuyên. Chính vì thế mà anh quyết tâm đầu tư đắp đập kiên cố, quyết không xoay lỗ mội nước thoát ra ngoài, nhằm khi mùa nắng trữ nước ngọt phục vụ tưới cây, chăn nuôi heo, gà, thả nhữ tôm cá.  

Dưới mương anh trồng mái dầm dọc 2 mép bờ để tạo môi trường tốt cho cá, tôm sinh sống. Trên vườn có hệ thống chôn lấp ống nhựa, gắn 150 cái ống đứng cao 1m, ráp cùng 150 cái béc phun nước; 2 cái mô-tơ công suất mỗi cái 1,5 HP chia làm 2 khu vực bơm nước; chi phí tốn khoảng gần 15 triệu đồng. Khi trời nắng mỗi ngày người nhà chỉ mở van, bật cầu dao điện 10 phút là tưới cả 1 ha đất trồng bưởi.

 Ống nhựa và béc tưới phun.


Trên bờ vườn anh để cỏ mật và rau trai mọc lấp xấp tự nhiên, giữ đất ẩm êm vào mùa nắng nhằm duy trì sự hoạt động của hệ vi sinh vật, phân hủy các chất hữu cơ, chuyển hóa cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, nếu cỏ lên cao thì dùng máy cắt cỏ rất ít tốn công.

Cách bón phân:
Đợt 1: Đầu mùa trước khi mưa đầu tiên anh bón 1-2 kg vôi/gốc và bón mỗi gốc bưởi 3-5 kg phân gà hiệu Kỹ nghệ Việt, sau một đám mưa bón thêm 0,3 kg phân lân 0,2 kg phân NPK 16-16-8 hiệu Syngenta.
Đợt 2: Giữa mùa mưa mỗi gốc bón 3-5 kg phân gà trộn 0,2-0,3 kg phân NPK 16-16-8.
Đợt 3: Cuối mùa mưa mỗi gốc bón 3-5 kg phân gà trộn 0,2-0,3 kg phân NPK 16-16-8 và thêm 0,1kg Kali.
Phân gà hiệu Kỹ nghệ Việt có ủ nấm Trichoderma, mỗi bao giá 100.000 đ/25 kg/bao. Cứ mỗi gốc bưởi anh bón 3-5 kg phân gà/lần x 300 gốc x 3 lần bón/năm= 3.000 kg phân/năm. Giá 4.000 đ/kg x 3.000 kg, anh tốn 12.000.000 đ. Bón phân liều lượng nhiều ít tùy theo cây lớn hay nhỏ, xong lấp cỏ rác đậy vào gốc.

Cách phun thuốc:
Cây bưởi lúc ra tược non thường khi có nhiều loại côn trùng trên lá gây hại, anh chỉ dùng chai nước rửa kiếng (dung tích 0,70 lít) pha 0,5 CC thuốc trừ sâu hiệu Kotox, phun ngay vào tược non có sâu lá, sâu vẽ bùa. Nếu có rệp sáp dùng 1 CC Movento phun ngay vị trí có rệp. Nếu bệnh Phytopthora chảy mủ trên gốc, thân, lá thì dùng bình xịt lớn phun tia nhỏ Ridosanine. Không xịt tràn lang gây ô nhiễm mà phí thuốc, kém hiệu quả, trong lúc tốn ít tiền không đáng kể. Anh chú ý dùng đúng thuốc, đúng liều lượng, xịt đúng cách, phun đúng chỗ đến nơi có các côn trùng gây hại như rầy, rệp sáp, sâu vẽ bùa, sâu lá và vết bệnh trên cây bưởi như bệnh đốm lá, chảy mũ…

Vườn bưởi da xanh của anh Nguyễn Văn Tùng luôn luôn tươi tốt, nhiều cây cho trái trỉu cành. Năm 2016, năm công vườn của anh cho thu nhập từ bưởi da xanh 120 triệu đồng, tôm cá khoảng 15 triệu đồng. Trong đó, các khoản chi phí như xây đập kiên cố, tiền phân,….gần 62 triệu đồng.

Như vậy, những tháng nước ngọt nắp cống vẫn đóng kín để chứa nước nuôi tôm cá, mực nước lớn ròng đều nhờ vào 2 ống nhựa đường kính 1 tấc và 2 ống bọng cuối mương tự động điều tiết. Đến lúc nước mặn xâm nhập bên ngoài thì đóng kín các ống bọng; trong đập vẫn luôn luôn được giữ nước ngọt; nước mặn bên ngoài không xâm nhiễm vào bên trong. Nước ngọt vẫn đảm bảo tưới mùa nắng hạn cho nhu cầu sử dụng.

 
 Dụng cụ đo mặn và giấy quỳ đo pH.

 

Có thể nói rằng đầu tư đắp đập kiên cố mang tính phục vụ lâu dài, lượng nước trữ ngọt không bị xoáy mội, giữ ngọt bền vững, tiện việc đóng mở nước khi cần thiết, bơm tưới hữu hiệu cho cây trồng và chăn nuôi lúc mùa mặn.

Đỗ Văn Công
Cộng tác viên Sở KH&CN