Đối tượng, nội dung được hỗ trợ theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) được thông qua tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV vào ngày 12 tháng 6 năm 2017. Luật có 4 Chương với 35 Điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Có 3 nhóm đối tượng trọng tâm được hỗ trợ theo Luật, gồm DNNVV được thành lập trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh, DNNVV khởi nghiệp sáng tạo và DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Tiêu chí xác định DNNVV được quy định tại Luật bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí là có tổng nguồn vốn của năm trước liền kề không quá 100 tỉ đồng, hoặc doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỉ đồng và giao Chính phủ quy định chi tiết quy định này.

Việc hỗ trợ DNNVV được thực hiện theo nguyên tắc tôn trọng quy luật thị trường, không vi phạm điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; đảm bảo công khai, minh bạch về nội dung, đối tượng, trình tự, thủ tục, nguồn lực, mức hỗ trợ và kết quả thực hiện; Nhà nước hỗ trợ DNNVV có trọng tâm, có thời hạn, phù hợp với mục tiêu hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực,…

Luật quy định cụ thể 08 nhóm nội dung hỗ trợ chung, gồm: Hỗ trợ tiếp cận tín dụng; Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; Hỗ trợ thuế, kế toán; Hỗ trợ mặt bằng sản xuất; Hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung; Hỗ trợ mở rộng thị trường; Hỗ trợ thông tin, tư vấn và pháp lý và Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực.

Đối với nội dung hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung, tập trung hỗ trợ DNNVV nghiên cứu, đổi mới công nghệ, tiếp nhận, cải tiến, hoàn thiện, làm chủ công nghệ thông qua các hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, tìm kiếm, giải mã, chuyển giao công nghệ; xác lập, khai thác, quản lý, bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Khuyến khích thành lập cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung theo hình thức đối tác công tư, đồng thời, doanh nghiệp và tổ chức đầu tư, kinh doanh khác được thành lập cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung. Cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung được hưởng các hỗ trợ như miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp theo quy định của pháp luật; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

Đối với các đối tượng DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh, khởi nghiệp sáng tạo, tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, Luật quy định 05 nội dung hỗ trợ, gồm: Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh; Hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp sáng tạo; Đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị và Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Để tạo động lực cho DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh, Luật quy định miễn thuế có thời hạn, cùng với hỗ trợ khác như miễn lệ phí môn bài, miễn phí thẩm định, lệ phí cấp phép kinh doanh lần đầu đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện… để tạo điều kiện khuyến khích các hộ kinh doanh chuyển thành doanh nghiệp.

Về trách nhiệm của chính quyền địa phương, Luật quy định cụ thể trách nhiệm của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc ban hành chính sách và bố trí nguồn lực hỗ trợ DNNVV tại địa phương; quyết định dự toán ngân sách hỗ trợ DNNVV theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; giám sát việc tuân theo pháp luật về hỗ trợ DNNVV tại địa phương.

Đối với ngành KH&CN tỉnh Bến Tre, hiện tại đang có bước điều chỉnh chính sách KH&CN hỗ trợ DNNVV, cụ thể là bổ sung đối tượng, ngành nghề được hỗ trợ theo Dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2020” như: Ngành nghề sản xuất, chế biến các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh theo Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 05 tháng 8 năm 2016 của Tỉnh ủy; DNNVV có hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, nâng cao năng lực ứng dụng khoa học và công nghệ; tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; phát triển giống cây, con có năng suất, chất lượng cao và khả năng chống chịu với sâu bệnh, biến đổi khí hậu; sản xuất, chế biến các sản phẩm nông nghiệp phục vụ đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2015 và đến 2020.



Huỳnh Cao Thọ
Sở Khoa học và Công nghệ