Một số kết quả bước đầu trong xây dựng chuỗi giá trị dừa tại Bến Tre

Sau gần một năm thực hiện Nghị quyết 03/NQ-TU của Tỉnh ủy và Kế hoạch 330/KH-UBND của UBND Tỉnh về việc xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị nông sản chủ lực của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025, đến nay chuỗi giá trị dừa đạt kết quả bước đầu, được nông dân, các doanh nghiệp quan tâm hưởng ứng, cụ thể như sau:

Phương pháp xây dựng chuỗi giá trị

- Trung tâm Khuyến nông phối hợp với các doanh nghiệp, thống nhất chương trình hoạt động, kế hoạch cụ thể. Trong đó chú trọng việc xác định tiêu chuẩn sản phẩm hàng hóa, quy mô vùng nguyên liệu, giải pháp cụ thể để tiêu thụ sản phẩm. Từ đó định hình sản phẩm hàng hóa cần sản xuất theo nhu cầu thị trường.

- Phối hợp với các địa phương trong việc định hướng tổ chức sản xuất theo hướng liên kết chuỗi. Tạo ra sản phẩm hàng hóa phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường. Xây dựng các mối quan hệ sản xuất cụ thể phù hợp với địa phương và đặc điểm của doanh nghiệp.

- Hỗ trợ địa phương trong việc hình thành các tổ chức liên kết sản xuất tại cơ sở (tổ hợp tác, hợp tác xã) phù hợp với thực tế và nhu cầu của doanh nghiệp, trên quan điểm từ thấp đến cao, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả để tạo sức thu hút và khả năng nhân rộng.

- Xây dựng chương trình huấn luyện đào tạo nâng cao năng lực về điều hành và tổ chức sản xuất cho các tổ hợp tác (THT), hợp tác xã (HTX); huấn luyện chuyển giao kỹ thuật tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của chuỗi giá trị.  

- Phân công cán bộ theo dõi hỗ trợ thường xuyên cho các địa phương và doanh nghiệp. Kịp thời tham gia xử lý các mối quan hệ, các vấn đề phát sinh trong quá trình liên kết sản xuất.

Một số kết quả đạt được

- Về phối hợp với doanh nghiệp, các địa phương hình thành các tổ chức liên kết sản xuất theo chuỗi

- Đã vận động cộng đồng thành lập 15 THT, 11TLK, củng cố 6 THT và 5 doanh nghiệp liên kết tiêu thụ. Trong đó, dừa công nghiệp, củng cố 5 THT, thành lập mới 10 THT và 11TLK có 910 thành viên với quy mô 687 ha trên địa bàn các huyện Giồng Trôm, Bình Đại, Mỏ Cày Nam.

- Ngoài ra, đã phối hợp với 2 HTX dừa mới thành lập (HTX nông nghiệp Châu Bình có 111 thành viên với 130 ha, HTX dừa Mỹ Hòa có 90 thành viên với 75 ha) để hỗ trợ xây dựng phương án sản xuất sau khi đã ổn định về mặt tổ chức; dừa uống nước, đã củng cố 1 THT, thành lập mới 5THT có 140 thành viên với quy mô 71,48ha trên địa bàn các huyện Giồng Trôm và Châu Thành.
Về huấn luyện chuyển giao kỹ thuật

 Hình1: Sơ đồ chuỗi giá trị dừa


- Trung tâm đã xây dựng các tài liệu kỹ thuật như “Kỹ thuật thâm canh dừa, Kỹ thuật canh tác dừa theo tiêu chuẩn hữu cơ, Kỹ thuật canh tác dừa thích nghi với hạn mặn”; xây dựng và in 1.500 tờ rơi tuyên truyền hoạt động xây dựng chuỗi giá trị dừa.

- Tổ chức 1 lớp tập huấn Bộ tiêu chuẩn hữu cơ của Mỹ, Nhật và EU cho 26 học viên là cán bộ kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông và Khuyến nông viên; 14 lớp tập huấn “Kỹ thuật canh tác dừa thích nghi với hạn, mặn” trên địa bàn các xã Lộc Thuận, Phú Vang, Phú Long huyện Bình Đại; xã An Hóa, Phước Thạnh, Giao Hòa huyện Châu Thành; Hưng Lễ, Phong Nẫm, Phong Mỹ huyện Giồng Trôm; Tân Trung, An Đinh, An Thới huyện Mỏ Cày Nam có 466 nông dân tham gia; 4 lớp tập huấn kỹ thuật canh tác dừa dừa theo tiêu chuẩn hữu cơ cho các hộ trồng dừa hữu cơ trên địa bàn các xã An Thới, An Định, Tân Trung và Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, có 120 nông dân tham dự.
Về tổ chức liên kết tiêu thụ sản phẩm

* Đối với dừa công nghiệp, hiện nay doanh nghiệp gắn kết với nông dân và các THT thông qua hợp đồng mua bán, liên kết tiêu thụ với nông dân bằng 2 hình thức: mua trực tiếp dừa trái và xây dựng điểm sơ chế tại cơ sở (đến nay đã xây dựng 2 điểm sơ chế tại xã An Định huyện Mỏ Cày Nam và xã Phong Nẫm huyện Giồng Trôm công suất sơ chế mỗi điểm khoảng 20.000 trái/ngày.

- Tính từ lúc triển khai liên kết thu mua đến nay Cty Lương Quới và Cty Betrimex đã liên kết tiêu thụ trên 2,5 triệu trái.

* Đối với dừa uống nước, doanh nghiệp liên kết với nông dân thông qua hợp đồng mua bán, thu mua dừa trái trực tiếp tại vườn của nông hộ và Cty chịu trách nhiệm thu hoạch và vận chuyển. Tính từ lúc triển khai liên kết thu mua (tháng 8/2017) đến nay Cty XNK Trái Cây Mekong đã thu mua được trên 65 ngàn trái.

Ngoài ra, Trung tâm còn phối hợp với doanh nghiệp; Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thực hiện các hoạt động hỗ trợ năng lực cho TLK, THT, HTX, hỗ trợ nông dân

Xây dựng 35 vườn dừa mẫu sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ với tổng diện tích 17,5 ha tại các xã An Thới, An Định, Tân Trung, Hương Mỹ (huyện Mỏ Cày Nam); Cty Lương Quới xây dựng phòng nhân nuôi ong ký sinh, trung bình mỗi tháng phóng thích 200-250 mummy trên vườn dừa hữu cơ địa bàn huyện Mỏ Cày Nam; thả hơn 200 bọ đuôi kìm lên vườn dừa mẫu trên địa bàn huyện Mỏ Cày Nam...

Trong quá trình xây dựng chuỗi giá trị dừa đã có các thuận lợi như: có chủ trương và chỉ đạo chặc chẽ, kịp thời của các cấp trong quá trình xây dựng chuỗi giá trị; có sự đồng thuận của doanh nghiệp và người dân trong việc xây dựng liên kết sản xuất; có sự phối hợp khá tốt của chính quyền đoàn thể tại các địa phương; được sự quan tâm, phối hợp, hỗ trợ thực hiện của các đơn vị, tổ chức thông qua các chương trình và dự án phù hợp.

 
 Hình 2: Hoạt động thu mua dừa tại cơ sở sơ chế An Định, Mỏ Cày Nam.


Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cũng gặp một số khó khăn hạn chế như: tiến độ xây dựng các THT còn chậm và chất lượng tổ chức điều hành THT chưa cao, chưa đáp ứng các yêu cầu của doanh nghiệp trong việc liên kết, đặc biệt là khâu tổ chức sản xuất sơ chế tại cơ sở (điều này đã ảnh hưởng đến khả năng tạo giá trị tăng thêm của chuỗi ở khâu sản xuất); công tác tuyên truyền vận động ở một số địa phương còn hạn chế, nên nhận thức về chuỗi giá trị chưa được đầy đủ, chưa sâu sắc; một số doanh nghiệp chưa đủ tiềm năng và chưa có chiến lược thực sự tương ứng trong việc xây dựng chuỗi giá trị.

Những khó khăn trên xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Nguyên nhân chủ quan, một số địa phương chưa có sự chủ động và quan tâm đúng mức đến công tác thông tin tuyên truyền tại địa phương trong việc vận động nông dân tham gia thành lập THT; địa phương thiếu nguồn nhân lực có năng lực làm lãnh đạo THT, HTX; thu gom và sơ chế dừa đáp ứng theo nhu cầu doanh nghiệp để doanh nghiệp tiếp cận nguồn nguyên liệu.

 

 Hình 3: Đóng gói dừa uống nước phục vụ xuất khẩu.


Nguyên nhân khách quan, hiện trạng sản xuất quá nhỏ lẻ, manh múng nên khâu tổ chức sản xuất và liên kết với doanh nghiệp hết sức khó khăn; kinh phí để thực hiện chuỗi dừa còn hạn chế, chưa đáp ứng theo yêu kế hoạch đề ra; tình hình sản xuất của các doanh nghiệp đôi khi thiếu ổn định nên việc xây dựng các liên kết mang tính dài hạn hoặc mở rộng quy mô còn hạn chế.

Những kết quả bước đầu trên còn hạn chế so với yêu cầu sản xuất, tuy nhiên nó cũng là một trong những nền tảng quan trọng trong việc định hướng xây dựng chuỗi giá trị dừa trong thời gian tới. Trung tâm Khuyến nông sẽ tiếp tục phối hợp với các doanh nghiệp, các đơn vị có liên quan tiếp tục vận động xây dựng liên kết sản xuất tại địa phương, tập huấn nâng cao năng lực Ban quản lý THT về kỹ năng và chuyên môn kỹ thuật sản xuất dừa đáp ứng theo nhu cầu của thị trường, tổ chức cho THT, HTX tham quan-học tập kỹ thuật sơ chế dừa nhằm mở rộng hệ thống sơ chế tại THT, HTX để nâng cao giá trị của chuỗi.


Nguyễn Thị Thanh Hoa
Trung tâm Khuyến nông Bến Tre