Hội thảo nuôi tôm chân trắng công nghệ cao hai giai đoạn tại Bình Đại

Ngày 26/7/2018, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Bình Đại tổ chức hội thảo kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao hai giai đoạn nhằm mục tiêu phát triển tốt phong trào nuôi tôm thẻ chân trắng kỹ thuật công nghệ cao hai giai đoạn trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đến dự hội thảo có ông Nguyễn Văn Vưng - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, ông Châu Hữu Trị - Báo cáo viên - Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh, ông Lê Văn La - Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện cùng hơn 50 đại biểu là bà con nông dân đại diện cho các hộ nuôi tôm biển trên địa bàn 2 xã Bình Thới và Bình thắng.

Tại buổi hội thảo, bà con nuôi tôm đã được báo cáo viên thông tin về tình hình nuôi tôm công nghệ cao hai giai đoạn trên địa bàn tỉnh Bến Tre trong thời gian qua, công tác thả nuôi, tình hình diễn biến thời tiết năm 2018 và giá cả tôm thịt trên địa bàn tỉnh và trình bày những kỹ thuật trong nuôi tôm công nghệ cao hai giai đoạn; cách xử lý ao ương, ao nuôi; chọn con giống, cách xử lý nước, chọn thời điểm thả nuôi, địa hình, độ mặn, nguồn nước, thời tiết… đặc biệt là quy trình xử lý kỹ thuật nuôi tôm sạch, không kháng sinh, hạn chế chi phí, tăng lợi nhuận cao khi nuôi tôm công nghệ cao hai giai đoạn.

 Ông Châu Hữu Trị - Phó Giám đốc Trung tâm

Khuyến nông tỉnh báo cáo tại hội thảo.


Quy trình kỹ thuật nuôi được tiến hành qua các giai đoạn sau:
1. Xây dựng công trình nuôi:
a. Ao ương: có diện tích từ 200 - 700 m2 độ sâu mức nước từ 0,8 – 1,2m. Ao ương thường được lót bạt toàn bộ, nên bố trí liền kề với ao nuôi để hạn chế tôm nuôi bị sốc khi tiến hành san qua ao nuôi, che phủ  phía trên bằng “lưới lan”; có bố trí hệ thống oxy đáy và hệ thống xi - phong ở giữa ao kết hợp máy bơm để thu gom và hút bỏ chất cặn bả, thức ăn dư thừa, vỏ tôm lột…

b. Ao nuôi:
- Đối với ao đất nên có diện tích từ 1.000 - 3.000m2 để thuận tiện cho việc chăm sóc, quản lý. Độ sâu mức nước từ 1.5 - 2m. Diện tích ao nuôi thường chiếm khoảng 30% diện tích khu nuôi.
- Đối với ao nuôi lót bạt toàn bộ có diện tích 500 - 1.500 m2 và che phủ  phía trên bằng “lưới lan”; có bố trí hệ thống oxy đáy và hệ thống xi - phong ở giữa ao kết hợp máy bơm để thu gom và hút bỏ chất cặn bả, thức ăn dư thừa, vỏ tôm lột…

c. Ao chứa lắng và chuẩn bị nước cấp: có diện tích bình quân khoảng 60% diện tích khu nuôi, dùng để trữ nước, chuẩn bị nước trước khi cấp cho ao nuôi và thay nước cho ao nuôi khi cần thiết; ao chứa chất thải rắn thường chiếm 10% diện tích khu nuôi.

d.  Hệ thống cấp và thoát nước: hệ thống cấp và thoát nước riêng biệt, có thể xây dựng hệ thống ống nhựa cấp nhằm tiết kiệm đất và đỡ tốn chi phí.

e. Các hệ thống khác: hệ thống rào (có thể có bạt bờ, bạt đáy) lưới bảo vệ, điện, đường giao thông nội bộ, nhà quản lý, kho chứa vật tư...

2. Chuận bị ao nuôi
a. Ao nuôi lót bạt toàn bộ
- Được thiết kế giống như ao ương và liền kề với ao ương nhưng hệ thống oxy đáy được bố trí ít hơn có thể bố trí 80 – 100 oxy hoa mai/1.000m2 (tương đương 200m ống aero tube/1.000m2).
- Đối với ao cũ tiến hành vệ sinh sạch sẽ, dùng vòi nước gom chất thải về giữa ao và xi phong ra ngoài; đối với ao mới lót bạt tiến hành lấy nước ngâm và xả 2-3 lần trước khi cấp nước và xử lý cho quá trình ương.

b. Ao đất:
- Kiểm tra kỹ bờ ao, tránh rò rỉ khi lấy nước vào.
- San bằng đáy ao, hơi dốc về phía cống thoát hay giữa ao.
- Ngâm rửa đáy ao nhiều lần trước khi bón vôi đáy ao.
- Kiểm tra pH đất đáy ao để biết lượng vôi bón vào ao, lượng vôi (CaO) dùng tùy thuộc vào pH của đáy ao (bảng 1).

 


- Lấy nước vào đạt 1m và ngâm thời gian 3 – 4 ngày.
- Xả bỏ nước trong ao và phơi đáy ao đến khi nứt chân chim (thường từ 7 – 10 ngày) (quá trình này có thể lập lại nhiều lần) trước khi lấy nước vào chuẩn bị để thả tôm.
Đối với ao cũ: loại bỏ hết chất hữu cơ trong vụ nuôi trước. Tùy điều kiện từng ao, thời điểm mà chọn cách cải tạo ao cho phù hợp.

3. Mùa vụ nuôi
Thực hiện theo lịch thời vụ thả giống của UBND Tỉnh, thường bắt đầu vào tháng 4 (DL) sau vài cơn mưa đầu mùa đến tháng 9 (DL), nhằm tránh những thời điểm có khí hậu bất lợi và dịch bệnh. Trong năm nên tiến hành 2 vụ nuôi là hợp lý.

4. Chuẩn bị nước:
Kiểm tra chất lượng nguồn nước trước khi lấy, tình hình dịch bệnh trên tôm ở những vùng lân cận… nên lấy nước vào thời điểm triều cường và con triều đạt đỉnh. Các bước thực hiện như sau:
- Lấy nước đưa vào ao chứa, lắng, khi lấy nước cần lọc qua vải lọc dày.
+ Để 2 - 3 ngày có kết hợp quạt nước tăng cường oxy nhằm giúp cho trứng các loài sinh vật theo nước vào trong ao nở hết.
+ Dùng Chlorin A 70% với liều lượng 30 - 35 kg/1.000m3 nước sử dụng vào lúc trời mát hoặc không còn ánh nắng (tốt nhất nên sử dụng vào lúc 1 – 2 giờ sáng) và pH < 8 để sát trùng nước cũng như diệt các sinh vật tạp nở từ trứng theo nước vào ao. Sau đó ít nhất 96 giờ và kiểm tra khi thấy hàm lượng Chlorin A (Chlorine) không còn tồn lưu trong nước thì có thể bơm cấp cho ao nuôi.
- Hoặc lấy trực tiếp vào ao nuôi qua túi lọc, để lắng 3 - 4 ngày và tiến hành xử lý trực tiếp, các bước giống như trên.
Có thể sử dụng các hóa chất diệt khuẩn khác như BKC, Formol, Iodin... để thay thế Chlorine, liều lượng phụ thuộc vào mùa vụ và vùng nuôi cho hợp lý.

Bón phân gây màu nước cho ao nuôi: nước ao đạt yêu cầu khi thả tôm phải có màu từ vàng xanh hoặc nâu của tảo lục hoặc tảo giáp, độ trong từ 30–50cm. Trước khi gây màu nước, cần lưu ý hàm lượng hóa chất diệt khuẩn trong ao nuôi không còn nữa (hoặc còn nồng độ rất thấp). Để gây màu nước, có thể dùng phân hữu cơ hoặc phân vô cơ.

- Dùng phân hữu cơ có thể áp dụng công thức sau: 1kg bột đậu nành + 1kg bột cám gạo + 1kg thức ăn tôm/1.000m2; tất cả được trộn đều, ủ qua đêm, sau đó lọc lấy phần nước hòa vào nước ao tạt đều khắp ao nuôi, lập lại liên tục 3 - 4 ngày đến khi màu nước ổn định hoặc phân gà đã ủ oai 10 kg/1.000m2.

- Dùng phân vô cơ: có thể sử dụng phân NPK, URE, DAP, lân… với liều dùng  2 - 3kg/1.000m2 hòa tan với nước ao nuôi và tạt hàng ngày vào mỗi sáng, duy trì liên tục 3 – 5 ngày, sau đó tùy theo tình hình màu nước và độ trong thực tế của ao để có thể bón bổ sung.

* Lưu ý: Công tác chuẩn bị nước ở ao ương và ao nuôi giống nhau nhưng khi ao ương tôm được 15 ngày tuổi thì tiến hành chuẩn bị nước cho ao nuôi.

5. Thả giống
a. Chọn giống:
- Cảm quan: khi chọn tôm giống, cần chọn tôm giống có nguồn gốc rõ ràng, ở những trại sản xuất giống có uy tín. Cần chú ý quan sát ngoại hình và hoạt động của tôm như: tôm có màu sáng đẹp, râu và phụ bộ đầy đủ, sạch sẽ, không dị hình, ruột đầy thức ăn; tôm đều cỡ, hoạt động nhanh nhẹn, có khả năng bơi ngược dòng và phản ứng nhanh với tác động bên ngoài. Cỡ giống thả thích hợp là > PL12, thường chiều dài >12mm. Tôm bố mẹ chọn dòng SIS Hawaii và mới tham gia sinh sản trong tháng đầu.
- Kiểm tra mầm bệnh: Tôm giống phải qua kiểm dịch; âm tính với các bệnh nguy hiểm như: Đốm trắng, đầu vàng, Taura, hoại tử gan tụy cấp tính (EMS), vi bào tử trùng, hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô.
- Bể ương giống phải có các yếu tố môi trường tương đồng với ao nuôi.

b. Ương giống:
- Ao ương sau khi đã chuẩn bị hoàn tất, tiến hành thả giống với mật độ ương 1.000 – 1.500 con/m2.
- Thời điểm thả: chọn thời điểm lúc sáng sớm hoặc chiều mát, cần chú ý lượng oxy hòa tan, nhiệt độ, độ mặn…
- Liều lượng thức ăn: Thường xuyên theo dõi khả năng tiêu tốn thức ăn của tôm để điều chỉnh cho phù hợp, thông thường lượng thức ăn cho ngày đầu từ 0,5 – 0,7 kg/100.000 post, sau đó tăng 200 – 400g/ngày/100.000 post.
- Định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học để khống chế vi khuẩn gây bệnh, làm sạch đáy ao, hấp thu khí độc…
- Thường xuyên theo dõi môi trường ao nuôi: nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, độ kiềm… để có biện pháp xử lý kịp thời.

6. Chăm sóc và quản lý tôm nuôi:
a. Sang tôm:
- Trước khi sang tôm cần lưu ý kiểm tra môi trường cả hai ao (ao ương và ao sang) đảm bảo sự tương đồng các thông số: độ mặn, pH, độ kiềm, ôxy hòa tan, nhiệt độ... nhằm hạn chế gây sốc cho tôm nuôi.
- Sau khi ương từ 3 - 4 tuần thì tiến hành sang nuôi (thông thường có các cách sang tôm như sau: dùng lưới kéo, đào mương, làm cống cho tôm tự qua nhưng thường sử dụng lưới kéo không điện). Ao nuôi cũng cần được chuẩn bị đầy đủ các bước: cải tạo, xử lý nước, gây màu như ao ương và đảm bảo các điều kiện môi trường tối ưu giúp tôm sinh trưởng và phát triển tốt.
- Mật độ nuôi: 200 – 300 con/m2 (đối với ao lót bạt tòa bộ).
- Mật độ nuôi: 80 – 100 con/m2 (đối với ao đất).

b. Thức ăn cho tôm:
- Chọn loại thức ăn tổng hợp chuyên dùng cho tôm chân trắng, sản xuất theo quy trình công nghiệp và trong thực tế đã được người nuôi sử dụng cho hiệu quả cao. Độ đạm nên từ 38 – 42%.
- Số lần cho ăn: cho ăn 4 lần/ngày (7 giờ, 10 giờ, 16 giờ, 21 giờ). Kết hợp kiểm tra sàng ăn, xem đường ruột và bảng khẩu phần cho tôm ăn để điều chỉnh thức ăn phù hợp.

 



Thức ăn là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của vụ nuôi, phải có cách cho ăn hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm, không thiếu, không thừa, vừa thúc đẩy tôm lớn nhanh, vừa bảo vệ được môi trường ao nuôi, không gây ô nhiễm và lãng phí. Lượng thức ăn cụ thể tùy thuộc vào quá trình kiểm tra sàng ăn (sàng bỏ 5 – 10g/kg/sàng.)

Thường xuyên theo dõi để quản lý tốt việc cho tôm ăn trong suốt quá trình nuôi: những ngày thời tiết nắng nóng, mưa nhiều, tôm đang lột xác… cần giảm 30 – 50% lượng thức ăn hàng ngày.

c. Chế độ quạt nước, sục khí: nhu cầu máy quạt nước cho ao nuôi như sau: ao có độ sâu nhỏ hơn 1.5m, diện tích 4.000m2 trở xuống cần 4 giàn quạt nước và mỗi giàn quạt nước bố trí từ 15 - 20 cánh quạt; ao có độ sâu trên 1.5m và diện tích 4.000m2  trở lên cần bố trí từ 6 - 8 giàn quạt và mỗi giàn quạt bố trí từ 15 - 20 cánh. Ngoài ra, có thể bổ sung hệ thống máy sục khí để cung cấp oxy cho tôm nuôi. Tốc độ vòng quay của quạt từ 60 – 80 vòng/phút.

Thời gian quạt thường bắt đầu từ 1giờ 30 phút sau khi ăn cho đến trước lần cho ăn sau là 30 phút (áp dụng cho tôm nuôi từ 1 tháng trở lên).

Đối với ao nuôi lót bạt toàn bộ chế độ sục khí được duy trì 24/24giờ nhằm đảm bảo oxy cho tôm.

d. Quản lý môi trường nước ao nuôi: tôm thẻ chân trắng rất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố môi trường. Do đó, việc quản lý môi trường ao nuôi tốt là điều hết sức quan trọng, mang tính quyết định đến sự thành công của vụ nuôi. Cần duy trì các yếu tố môi trường trong khoảng tối ưu hoặc trong các trường hợp có sự thay đổi, thì biên độ của sự thay đổi càng nhỏ là càng tốt.

 



Thay nước: hàng ngày vào lúc trời mát, tiến hành xi – phong chất cặn bả trong ao tôm từ 1 đến 2 lần vào ao chứa chất thải, kết hợp thay và cấp nước mới từ 10 - 20 % lượng nước trong ao . Nước cấp vào ao nuôi được lấy từ ao lắng đã qua lọc, lắng và xử lý diệt khuẩn. Một số mô hình có thể sử dụng lại hệ thống tuần hoàn nước.

e. Theo dõi hoạt động của tôm và quản lý sức khỏe tôm:
Trong nuôi tôm thẻ chân trắng cần chú ý theo dõi mọi hoạt động của tôm trong ao để có biện pháp điều chỉnh kịp thời và hợp lý, thường xuyên kiểm tra tôm bằng cách quan sát đường ruột nhằm đánh giá mức độ bắt mồi, những dấu hiệu của bệnh trên cơ thể tôm (quan sát mang, vỏ, màu sắc, khối cơ, cong thân, những biến dạng khác của cơ thể tôm…) cần theo dõi và dự đoán thời kỳ lột xác của đàn tôm trong ao để có những điều chỉnh về cho ăn, quạt nước, sục khí, hoặc hoặc có giải pháp phù hợp.

f. Tăng cường sức khỏe cho tôm nuôi:
- Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc kháng sinh, hóa chất trong nuôi tôm.
- Thực hiện các biện pháp nhằm duy trì chất lượng nước thông qua các thông số môi trường.
- Sử dụng thuốc kháng sinh, hóa chất và men vi sinh trong ao nuôi phải hợp lý tại những thời điểm cẩn thiết.

7. Thu hoạch: Đối với mô hình nuôi 2 giai đoạn mật độ cao thu hoạch thường được tiến hành 2 – 3 lần (lần 1 cỡ 80 – 100 con/kg; lần 2 cỡ 60 – 70 con/kg; lần 3 từ 35 – 45 con/kg; việc thu hoạch cần bố trí sao cho mang lại hiệu quả cao cho người nuôi.
          

 Đại biểu tham gia thảo luận tại hội thảo.
 
 
 Quang cảnh hội thảo.

Tại hội thảo, các đại biểu đã nêu ý kiến, tập trung đến một số loại bệnh gây hại cho tôm và các biện pháp phòng trị trên tôm biển. Báo cáo viên đã giải đáp các thắc mắc cho bà con nông dân đồng thời giúp cho bà con nuôi tôm nắm bắt đúng kỹ thuật, cách xử lý trong nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao (02 giai đoạn), giảm bớt rủi ro, thiệt hại trong việc nuôi tôm thẻ chân trắng, đem lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao (02 giai đoạn).

Châu Quang Thông
Trung tâm TT và TK KH&CN

Tin khác cùng chuyên mục: