Hiệu quả từ việc ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất các sản phẩm nông nghiệp

 

Tỉnh Bến Tre có nhiều tiềm năng và nguồn lực phát triển nông nghiệp đặc biệt là kinh tế vườn và kinh tế biển, trong đó chủ lực là cây dừa với diện tích trồng dừa lớn nhất nước. Theo số liệu thống kê, cuối năm 2018, diện tích dừa của tỉnh đạt 72.289 ha với diện tích đang thu hoạch ổn định là 65.692 ha, sản lượng 615.473 tấn; diện tích dừa Bến Tre chiếm 42,5% tổng diện tích dừa cả nước, 0,6% diện tích dừa thế giới. Đặc biệt, Bến Tre có các giống dừa đa dạng với chất lượng tốt, năng suất dừa Bến Tre cao nên sản lượng chiếm 47,34% sản lượng cả nước, 0,9% sản lượng dừa thế giới. Diện tích dừa tăng 3.744 ha so với năm 2015.

 

Để hỗ trợ ngành dừa phát triển, tỉnh đã ban hành Chương trình phát triển ngành dừa đến năm 2020 với mục tiêu gia tăng năng suất, sản lượng dừa và thu nhập của người trồng dừa; đảm bảo cung ứng ổn định nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; thúc đẩy sự gắn kết giữa các doanh nghiệp chế biến và nâng cao chuỗi giá trị trong chế biến dừa, góp phần thúc đẩy ngành dừa phát triển nhanh và bền vững. Đồng thời, tỉnh cũng đã tập trung đầu tư phát triển chuỗi giá trị 8 sản phẩm nông nghiệp chủ lực theo Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 05/8/2016 của Tỉnh ủy về xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025.

 

Với chủ trương của tỉnh là đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, tập trung vào hai mũi nhọn là kinh tế vườn và kinh tế biển, gắn với thực hiện có hiệu quả tái cơ cấu nông nghiệp; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là khoa học ứng dụng, thực nghiệm để áp dụng vào sản xuất. Tỉnh Bến Tre đã tập trung xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh trên cơ sở gắn sát nhu cầu thị trường, tăng cường đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết theo mô hình hợp tác, hợp tác xã kiểu mới. Chương trình khoa học và công nghệ phát triển ngành dừa tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2015 – 2020 là cơ sở quan trọng thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nghiên cứu chuyên sâu về chuỗi giá trị cây dừa. Nhiều nhiệm vụ KH&CN được triển khai nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, nâng cao năng suất chất lượng của sản phẩm dừa, nhiều dòng sản phẩm thực phẩm chức năng, mỹ phẩm từ dừa được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng, đáp ứng kịp thời cho nhu cầu chế biến xuất khẩu, đặc biệt, một số sản phẩm dừa đã xuất khẩu được sang các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật và châu Âu.

 

Tỉnh đã hỗ trợ các doanh nghiệp có năng lực thực hiện các nhiệm vụ KH&CN để tiếp cận các Chương trình KH&CN quốc gia; các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, cấp cơ sở do doanh nghiệp chủ trì thực hiện; hỗ trợ đầu tư các mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN phát triển sản xuất. Giai đoạn 2016 - 2018, Bến Tre có 07 nhiệm vụ KH&CN cấp nhà nước, 12 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh và 07 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở được triển khai với tổng kinh phí là 155 tỷ đồng, trong đó, trung ương hỗ trợ 33,13 tỷ đồng, vốn sự nghiệp khoa học địa phương khoảng 12 tỷ, còn lại là phần vốn đối ứng của doanh nghiệp và của người dân. Ngoài ra, đã cho vay lãi suất ưu đãi 08 dự án, với tổng số vốn cho vay là 15 tỷ đồng, thu hút đầu tư của doanh nghiệp cho KH&CN trên 140 tỷ đồng để triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt, có 04 hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa 02 doanh nghiệp KH&CN ngành dừa của tỉnh với các đối tác trong và ngoài nước được ký kết, góp phần tạo ra các sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm từ dừa có giá trị gia tăng cao (tổng giá trị các hợp đồng là 253.756 triệu đồng). Ngoài ra, doanh nghiệp KH&CN còn được tỉnh chủ trương ưu tiên hỗ trợ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài, tham gia các chương trình phát triển thị trường KH&CN, các hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ trong và ngoài nước, các nhiệm vụ KH&CN từ ngân sách nhà nước của Trung ương và địa phương.

 

Đối với cây dừa, tỉnh đã đặt hàng nghiên cứu sâu về chuỗi giá trị với 12 đề tài, dự án KH&CN từ nghiên cứu về kỹ thuật canh tác, công nghệ chế biến, máy móc thiết bị hỗ trợ cơ giới hóa, chuyển giao công nghệ chế biến các sản phẩm từ dừa có giá trị kinh tế cao, xây dựng, phát triển thương hiệu và tiếp cận thị trường.

 

Kết quả nghiên cứu về kỹ thuật canh tác, đã nhân rộng được mô hình khắc phục hiện tượng dừa không mang trái (dừa treo), cải thiện năng suất dừa lấy dầu; quy trình quản lý theo hướng sinh học đối với bọ vòi voi và sâu đục trái gây hại trên cây dừa; nhân nuôi và phóng thích loài ong ký sinh Tetrastichus brontispae ký sinh nhộng bọ cánh cứng hại dừa. Đối với các vùng trồng dừa và các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ dừa được hỗ trợ kinh phí xây dựng, áp dụng và chứng nhận các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như GlobalGAP, VietGAP, ISO, HALAL, HACCP... Hỗ trợ xây dựng các thương hiệu dừa có uy tín, tạo thế cho sản phẩm dừa Bến Tre tiếp tục giữ vững và phát triển trên các thị trường thế giới. Khai thác, phát triển chỉ dẫn địa lý “Bến Tre” cho sản phẩm dừa uống nước xiêm xanh, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch truyền thông về cây dừa, tiến tới số hóa cây dừa.

 

Trong lĩnh vực cơ khí, tự động hóa, kết quả nghiên cứu đã tạo ra và ứng dụng thành công thiết bị sấy chỉ xơ dừa tự động 5 tấn/ngày; máy tách vỏ dừa công suất 800-1.000 quả/giờ; máy gọt vỏ nâu cơm dừa; dây chuyền sản xuất bụi than thành than viên gáo dừa phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu và bảo vệ môi trường; máy se chỉ xơ dừa tự động; máy se dây thừng chỉ xơ dừa không nối… Trong lĩnh vực chế biến các sản phẩm từ dừa, nhiều dự án triển khai thành công, tạo ra nhiều dòng sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao như mỹ phẩm từ dừa, thân thiện với môi trường (mặt nạ dưỡng da, mặt nạ collagen, dầu ủ tóc từ dừa, dầu gội từ dừa, nước rửa dưỡng da tay từ dầu dừa, giấy thấm dầu, dầu xua muỗi, son môi dừa….); các sản phẩm nổi bật như nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chế biến và đóng gói Tetra-Pak cho sản phẩm nước dừa tại vùng ĐBSCL; chiết tách dầu dừa tinh khiết bằng công nghệ không gia nhiệt; hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao, vùng nguyên liệu dừa hữu cơ phục vụ nhu cầu chế biến và xuất khẩu. Ngoài ra, nhiều sản phẩm từ dừa đã đạt được nhiều giải thưởng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cấp vùng như tranh giấy dừa, ống hút từ nước dừa, tinh dầu xua muỗi LOMOS từ dừa.

 

 

image

Máy gọt vỏ nâu cơm dừa.

 

image

Tranh giấy dừa.

 

 image

Tinh dầu xua muỗi Lomos.

 

image
 
image
 
image
 
image
 Sản phẩm ống hút từ nước dừa - Công ty TNHH chế biến SP dừa Cửu Long.

 

 image
 
image
 
image
 Một số sản phẩm KH&CN của Công ty Lương Quới.

 

Kết quả đánh giá trình độ công nghệ năm 2018 đối với nhóm ngành sản xuất chế biến các sản phẩm từ dừa của tỉnh đạt xấp xỉ trình độ trung bình tiên tiến, trong đó có 02 doanh nghiệp đạt trình độ tiên tiến. Đặc biệt, yếu tố về công nghệ, thiết bị trong sản xuất, chế biến dừa của tỉnh Bến Tre đạt trình độ tiên tiến. Kết quả ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất đã góp phần nâng cao trình độ, năng lực công nghệ sản xuất, chế biến dừa từ trung bình thấp (giai đoạn 2011-2015) lên trình độ trung bình tiên tiến trong giai đoạn 2016 – 2018.

 

Tính đến thời điểm hiện tại, tổng số doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh là 525 doanh nghiệp với tổng vốn đầu tư khoảng 20.500 tỷ đồng; trong đó doanh nghiệp ngành dừa khoảng 133 doanh nghiệp với hơn 200 sản phẩm được sản xuất, chế biến phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu. Giá trị sản xuất công nghiệp các sản phẩm dừa (giá so sánh 2010) năm 2018 ước đạt 3.300 tỷ đồng, chiếm 12,34% giá trị sản xuất công nghiệp. Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ dừa năm 2018 ước đạt 215,34 triệu USD, chiếm 22,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2018 là 11,93%/năm (cao hơn mục tiêu chương trình xuất khẩu của tỉnh 1,13%). Thị trường xuất khẩu dừa tiếp tục được giữ vững và mở rộng, đến năm 2018 đã xuất khẩu sang 85 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ năm 2016 đến nay, các nhà máy chế biến dừa tiêu thụ khoảng 98% sản lượng dừa khô trong tỉnh tương đương trên 500 triệu trái, đạt khoảng 60% công suất thiết kế. Số lượng dừa trái khô xuất khẩu có xu hướng giảm mạnh, năm 2010, xuất khẩu trên 100 triệu trái, năm 2014 xuất khẩu 84 triệu trái, năm 2015 là 21 triệu trái và từ năm 2016, xuất khẩu chỉ còn khoảng 14 triệu trái. Nguyên nhân do các doanh nghiệp chế biến dừa của Bến Tre đã đẩy mạnh thu mua dừa khô để chế biến ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Tốc độ đổi mới công nghệ giai đoạn 2016 – 2018 đạt 18%, đây là thước đo tác động của KH&CN đối với phát triển kinh tế, là chỉ số đo nỗ lực đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh. Nhờ đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm được nâng lên, chi phí sản xuất giảm 10% và giá trị tăng thêm của ngành dừa đạt trên 15%.

 

Nhìn chung, hoạt động sản xuất chế biến và tiêu thụ dừa có bước phát triển khá, có nhiều dự án chế biến dừa quy mô lớn đi vào hoạt động, nhiều sản phẩm mới từ dừa được thương mại hóa với quy mô lớn, sản lượng các sản phẩm mới có sự tăng trưởng khá.

 

Bên cạnh những kết quả đạt được, cũng còn tồn tại một số khó khăn nhất định, hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN nói chung cũng như trong sản xuất, chế biến dừa còn chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế của tỉnh. Một là, thu nhập của người dân trồng dừa chưa ổn định, còn lệ thuộc nhiều yếu tố khách quan (điều kiện tự nhiên và thị trường), nông dân còn chịu nhiều rủi ro trong sản xuất và tiêu thụ dừa trái. Giá cả thị trường vẫn là yếu tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ đối với sản xuất và đời sống nông dân trồng dừa. Hai là, tình hình sản xuất của người dân vẫn còn tình trạng tự phát, mặc dù có tổ chức một số mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ nhưng trong các mối liên kết chưa thật sự bền vững, quy mô nhỏ, mang tính thời vụ, đầu vào và đầu ra còn nhiều khâu trung gian, trách nhiệm và vai trò của các tác nhân chưa rõ nét, cơ chế chính sách tạo hành lang pháp lý chưa đáp ứng được yêu cầu. Ba là, việc đầu tư cho cây dừa thiếu toàn diện, chưa nghiên cứu giá trị dinh dưỡng, y học của dừa làm cơ sở dữ liệu cho việc quảng bá và khuyến khích tiêu thụ sản phẩm, hàm lượng KH&CN kết tinh trong sản phẩm dừa chưa cao, chưa đáp ứng kịp nhu cầu xã hội và thực tiễn đặt ra. Bốn là, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến sản phẩm dừa áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến còn ít. Quá trình ứng dụng tiến bộ KH&CN trong nhân dân mới chỉ tập trung ở các mô hình trình diễn, tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi giá trị cây dừa còn những hạn chế nhất định.

 

Trong thời gian tới, để thúc đẩy ứng dụng KH&CN trong sản xuất và chế biến dừa, nâng cao chất lượng chuỗi giá trị cây dừa và phát triển bền vững, cần tập trung một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản sau:

 

Thứ nhất, doanh nghiệp ngành dừa tỉnh Bến Tre phải tích cực, chủ động hơn trong hoạt động nghiên cứu – phát triển, ứng dụng, đổi mới công nghệ nhằm tạo ra dòng sản phẩm mới, có năng suất chất lượng và cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại trên thị trường, hạn chế tối đa yếu tố rủi ro về điều kiện tự nhiên và thị trường.

 

Thứ hai, nghiên cứu ứng dụng công nghệ, thiết bị, chế biến sâu các sản phẩm từ cây dừa; tổ chức lại các mô hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ gắn với văn hóa và du lịch dừa; tổ chức có hiệu quả các hoạt động phối hợp giữa doanh nghiệp, tổ chức KH&CN, hợp tác xã và các ngành chức năng nhằm nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm dừa gắn với yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.

 

Thứ ba, ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đề tài, dự án thuộc các chương trình KH&CN quốc gia nghiên cứu sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao, các nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng, y học của dừa làm cơ sở dữ liệu cho việc quảng bá và khuyến khích tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hàm lượng KH&CN sản phẩm dừa, đáp ứng kịp thời tiêu dùng nội địa và yêu cầu về tiêu chuẩn xuất khẩu.

 

Thứ tư, tập trung hỗ trợ xây dựng thương hiệu, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là xây dựng chỉ dẫn địa lý và bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài cho sản phẩm dừa; ưu tiên hỗ trợ xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, thương mại hóa các sản phẩm KH&CN từ dừa.

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Giấy dừa Bến Tre – Sản phẩm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từ tài nguyên bản địa
• Hiệu quả kinh tế cao từ mô hình trồng dừa xiêm xanh uống nước
• Nâng cao chuỗi sản phẩm hỗ trợ sức khỏe từ bưởi da xanh
• Giồng Trôm khởi nghiệp thành công từ mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng
• Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu lần đầu tiên thực hiện thành công thủ thuật đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn
• Lợi nhuận cao từ mô hình kinh doanh củ hủ dừa
• Phương pháp đánh giá chất lượng cảm quan thực phẩm
• Xây dựng chỉ tiêu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và thực nghiệm sản xuất sò huyết tại Bến Tre
• Quy trình kỹ thuật chăm sóc cây hoa giấy hạn chế rụng lá hàng loạt vào mùa mưa
• Lưu ý một số bệnh hại trên vườn cây ăn trái sau triều cường
• Cần làm gì để bảo vệ vườn cây ăn trái sau đợt ngập úng
• Bến Tre lần đầu tiên công bố nghiên cứu ứng dụng thành công và đưa vào thương mại hoá sản phẩm xử lý môi trường nước trong nuôi thuỷ sản - KBM
• Ứng dụng KH&CN phát triển chuỗi giá trị xoài Tứ quý Thạnh Phú
• Nghiệm thu đề tài khoa học “Quản trị rủi ro trong chuỗi cung ứng các doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bến Tre”
• Điểm sáng ba mô hình du lịch Homestay (Ba Danh, Mười Nở, Vườn Xanh) phía Nam Thành phố Bến Tre