Mô hình đánh giá mức độ sẵn sàng của một tổ chức hoặc địa phương tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Để đánh giá mức độ sẵn sàng tiếp cận Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) của các doanh nghiệp (DN) và địa phương, xin giới thiệu phương pháp đánh giá do Hiệp hội Kỹ thuật Cơ khí của Đức (Verband Deutscher Maschinen-und Anlagenbau – VDMA) đề xuất (gọi tắt là phương pháp VDMA). Xét về tổng thể, mô hình đánh giá mức độ DN, địa phương tham gia CMCN 4.0 dựa trên 6 trụ cột và 18 chiều để các DN, địa phương tự đánh giá/cho điểm và xếp hạng mức độ sẵn sàng/tham gia của mình vào cuộc CMCN 4.0.


Mô tả mô hình đánh giá


Trong mô hình 6 chiều này, 2 chiều đầu tiên (nhà máy và sản phẩm thông minh) liên quan tới thế giới thực, trong khi 2 chiều khác (phương thức sản xuất thông minh và các dịch vụ dựa trên dữ  liệu) thuộc về thế giới ảo. Hai chiều cuối cùng (chiến lược và tổ chức, chất lượng nguồn nhân lực) đảm bảo sự kết nối nhịp nhàng giữa hai thế giới thực và ảo thông qua con người và tổ chức bộ máy với chiến lược, chủ trương phù hợp cùng với năng lực thực hiện việc chuyển đổi sang CMCN 4.0. Theo quan niệm này, CMCN 4.0 có thể được gọi là sự pha trộn của thế giới thực và ảo. Mô hình 6 chiều đánh giá mức độ sẵn sàng của một tổ chức hoặc địa phương tham gia cuộc CMCN 4.0 các chiều được thể hiện như sau.


Nhà máy thông minh là môi trường sản xuất trong đó các hệ thống dây chuyền và hậu cần tổ chức làm việc phối hợp với nhau mà không có sự can thiệp của con người. Nhà máy này dựa trên các hệ thống điều khiển phỏng sinh học (CPS) kết nối thế giới thực và ảo với nhau thông qua nền tảng công nghệ thông tin (CNTT) và hệ thống IoT. Năng lực của một tổ chức đối với chiều đánh giá này có thể định lượng hóa bằng các tiêu chí như: mô hình số hóa, hạ tầng thiết bị và thành phần máy móc, mức độ sử dụng dữ liệu, các hệ thống và hạ tầng CNTT.


Sản phẩm thông minh là nền tảng cho nhà máy thông minh và phương thức sản xuất thông minh. Đây cũng chính là cấu phần cốt yếu của một nhà máy thông minh thống nhất cho phép quá trình sản xuất tự động hóa cao, linh hoạt và hiệu quả. Các cấu phần vật lý được tích hợp các chi tiết kỹ  thuật như bộ cảm biến, RFID (Radio Frequence Identification - định danh bằng sóng radio), giao diện truyền dẫn… giúp cho việc thu thập dữ liệu về  môi trường và hiện trạng của bản thân các thiết bị. Độ sẵn sàng trong mảng sản phẩm thông minh có thể được xác định thông qua các chức năng CNTT bổ sung vào sản phẩm và cấp độ sử dụng dữ liệu trong việc phân tích.


Phương thức sản xuất thông minh là các yêu cầu kỹ thuật trong sản xuất và lập kế hoạch là rất cần thiết để hiện thực hóa cơ chế tự kiểm soát trong quá trình sản xuất. Đây được gọi là phương thức sản xuất thông minh. Độ  sẵn sàng CMCN 4.0 đối với chiều đánh giá này có thể xác định dựa theo các tiêu chí cụ thể: chia sẻ dữ liệu giữa các khâu trong quá trình sản xuất, cấp độ sử dụng mô hình điện toán đám mây, an toàn bảo mật thông tin, các qui trình tự hành trong tổ chức.


Các dịch vụ dựa trên dữ liệu: Các DN đang chuyển đổi từ bán sản phẩm sang cung cấp giải pháp đã chứng minh mô hình các dịch vụ dựa trên dữ liệu. Các dịch vụ này căn chỉnh mô hình kinh doanh tương lai của các DN hoặc địa phương với mục tiêu làm tăng giá trị cho khách hàng. Các dịch vụ hậu mãi dựa trên các đánh giá phản hồi từ khách hàng và kỹ thuật thông minh phân tích dữ liệu về mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với toàn thể đơn vị. Các sản phẩm vật lý phải được trang bị với chức năng CNTT, bổ sung công năng gửi nhận và xử lý thông tin giúp cho quá trình giám sát sự vận hành của sản phẩm. Chiều đánh giá này được xác định bởi 3 tiêu chí: độ sẵn sàng của dịch vụ mọi lúc, mọi nơi; tỉ lệ doanh số được tạo ra từ phân khúc dịch vụ cho các sản phẩm; tỉ lệ dữ liệu được sử dụng trong quá trình phân tích, đánh giá sản phẩm.


Chiến lược và tổ chức: CMCN 4.0 tạo ra cơ hội phát triển các mô hình kinh doanh mới cùng nhau thay vì chỉ cải tiến các qui trình kinh doanh hiện hữu thông qua việc sử dụng công nghệ số. Tính mở và độ tương tác văn hóa có thể được đánh giá sử dụng các tiêu chí chủ yếu: việc thực hiện chiến lược tích lũy/phát kiến tri thức cho CMCN 4.0; đánh giá lại các chiến lược thông qua hệ thống chỉ số để hoạt động hiệu quả hơn; các dự án đầu tư của tổ chức liên quan tới cuộc cách mạng này; độ am hiểu trong quản lý công nghệ và quản lý sức sáng tạo trong tổ chức; độ am hiểu trong hiện trạng hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D).


Nhân lực giúp cho tổ chức hiện thực hóa quá trình chuyển đổi số.  Chiều đánh giá này phụ thuộc vào các kỹ năng của nhân viên và năng lực có thể tiếp nhận tri thức/kỹ năng mới của họ. Lý do chính là nhân viên sẽ bị  ảnh hưởng nhiều nhất trong quá trình chuyển đổi công nghệ của tổ chức, trực tiếp tác động vào môi trường làm việc của họ. Do vậy, yêu cầu tiên quyết đối với nhân viên là họ phải có khả năng tiếp nhận các kỹ năng mới phù hợp với trang thiết bị hiện đại trong môi trường làm việc số.


Các thức đánh giá và xếp hạng


Cách cho điểm mức độ sẵn sàng/tham gia của DN, địa phương theo từng chiều, dựa trên kết quả điều tra của từng chiều (trong mỗi trụ cột), điểm (có giá trị từ 0 - 5) sẽ được gán cho mức độ sẵn sàng của DN, tổ chức, địa phương trong chiều đó. Giá trị 0 sẽ được gán cho mức độ sẵn sàng của DN, tổ chức, địa phương trong chiều đó nếu không có câu trả lời/không có thông tin và/hoặc DN, tổ chức, địa phương chưa làm gì hoặc mới làm rất ít trong việc chuẩn bị hoặc triển khai các hoạt động liên quan đến chiều đó. Giá trị 5 (cao nhất) sẽ được gán cho mức độ sẵn sàng của DN, tổ chức, địa phương nếu DN, tổ chức, địa phương đã triển khai thành công các hoạt động ở chiều đó.


Mức độ sẵn sàng tham gia vào cuộc CMCN 4.0 được xác định bằng điểm số của các trụ cột theo công thức:
Điểm sẵn sàng (A) = b%*B + c%*C + d*D + e%*E + f*F + g%*G.


Trong đó, B, C…G là điểm sẵn sàng theo các trụ cột có giá trị bằng điểm thấp nhất 5 trong số điểm của các chiều tương ứng (ví dụ: B=B1 nếu B1 có giá trị thấp nhất trong B1, B2 và B3).


Các số % a, b, c… là trọng số được gán cho từng trụ cột (chiến lược và tổ chức, nhà máy thông minh, vận hành thông minh, sản phẩm thông minh, dịch vụ dựa trên nền tảng số liệu, người lao động).


Xếp hạng mức độ sẵn sàng/tham gia của DN vào CMCN 4.0: được phân loại theo 6 mức (từ 0 đến 5) với điểm số được tính như trên. Ở mức 0 là nhóm các DN đứng ngoài cuộc – các doanh nghiệp chưa làm gì hoặc mới làm rất ít trong việc chuẩn bị hoặc triển khai các hoạt động CMCN 4.0. Ở mức 5 là các DN dẫn đầu – các DN đã triển khai thành công các hoạt động của CMCN 4.0, triển khai đầy đủ tầm nhìn mục tiêu và có toàn bộ chuỗi giá trị gia tăng được tích hợp với công nghệ thời gian thực và cho phép tương tác giữa các công đoạn của chuỗi giá trị. Sáu mức độ sẵn sàng này được phân thành ba nhóm DN, cho phép tóm tắt các kết quả một cách khái quát hơn và tạo điều kiện thuận lợi hơn để đưa ra kết luận về mức tiến bộ, các yêu cầu/điều kiện liên quan đến triển khai CMCN 4.0 và nhận diện một số hành động cụ thể dựa trên mức độ triển khai (Hình 0 - 2): (i) Nhóm mới gia nhập (mức độ sẵn sàng 0 - 1): bao gồm các DN “đứng ngoài cuộc” và “mới bắt đầu; (ii) Nhóm học hỏi (mức độ sẵn sàng 2): bao gồm các DN “có trình độ cơ bản” - đã có những bước đi đầu tiên trong việc triển khai CMCN 4.0; và (iii) Nhóm dẫn dắt (mức độ sẵn sàng 3 trở lên): bao gồm các DN “có kinh nghiệm”, “chuyên gia” và “đi đầu” – là các DN đã có những bước tiến khá trong quá trình triển khai CMCN 4.0 và đang ở mức phát triển hơn hẳn so với các nhóm doanh nghiệp khác.


Mô hình, cách thức đánh giá và xếp hạng này sẽ giúp cho việc đánh giá mức độ chuẩn bị của DN, tổ chức, địa phương đối với CMCN 4.0 dựa trên các tham số quan trọng và phân tích được độ lệch từ hiện trạng của tổ chức cần phải giải quyết để tiếp nhận làn sóng CMCN 4.0. Mô hình này được coi là công cụ toàn diện nhất, bao quát đầy đủ các khía cạnh và cơ sở khoa học.


Dựa vào mô hình này, Văn phòng Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNDP) và Bộ Công thương đã khảo sát, nghiên cứu, đánh giá 2.659 DN công nghiệp thuộc 17 nhóm trên phạm vi toàn quốc với kết quả (85%) DN được điều tra đang chưa có sự chuẩn bị tham gia Cuộc CMCN4.0 và một số nhỏ (13%) DN đang ở mức “mới bắt đầu”. Số DN còn lại ở mức “trình độ cơ bản” hoặc có “kinh nghiệm”.


Đối với địa phương Bến Tre hiện chưa tiến hành đánh giá mức độ sẵn sàng tham gia cuộc CMCN 4.0 theo mô hình này nhưng qua khảo sát sơ bộ một số DN trên địa bàn thuộc lĩnh vực viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm đều có mức độ sẵn sàng là biết cơ bản tương đương với điểm số 2 – 3 thuộc thang cấp độ từ 0 – 5.


Trong thời gian tới, cơ quan chức năng Bến Tre sớm triển khai thực hiện nhiệm vụ đánh giá mức độ sẵn sàng tham gia cuộc CMCN 4.0 của các tổ chức trên địa bàn tỉnh theo mô hình này, nhất là DN, đơn vị sự nghiệp công lập và cơ quan nhà nước để có cơ sở khoa học để xuất các giải pháp chủ động gia nhập ngày càng rộng hơn, sâu hơn vào cuộc cách mạng này.

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Khoa học và công nghệ Bến Tre đổi mới vì một đại dương bền vững
• Đầu tư đối tác công - tư trong khoa học và công nghệ Bến Tre
• Một số giải pháp canh tác lúa khi ảnh hưởng hạn mặn
• Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre quyết tâm xây dựng hợp tác xã điểm
• Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên thời covid-19
• Công nghệ máy chủ
• Giải pháp phục hồi vườn cây ăn trái sau thời gian hạn, mặn
• Khoa học và công nghệ Bến Tre với kết quả tái cơ cấu ngành nông nghiệp địa phương
• Nhận diện công nghệ chủ chốt, nền tảng của công nghiệp 4.0
• Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre triển khai các giải pháp giảm thiểu tác động của dịch covid-19
• Những công trình địa phương chí Bến Tre
• Kinh tế tuần hoàn ở Bến Tre
• Hạn mặn – Thực tiễn và trãi nghiệm
• Phòng trừ sâu hại trên cây mướp hương trong mùa nắng hạn
• Nguồn nước tưới và bệnh đốm lá trên cây sầu riêng