Khoa học và công nghệ Bến Tre với kết quả tái cơ cấu ngành nông nghiệp địa phương

Ngày 20/4/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre Báo cáo số 121/BC-UBND Kết quả tính toán các tiêu chí  9, 10, 11, 12, 13 và 14  thuộc Bộ tiêu chí giám sát và đánh giá về cơ cấu lại ngành nông nghiệp các năm 2017, 2018 và 2019 trên địa bàn tỉnh, trong 06 tiêu chí công bố lần này có 02 tiêu chí đạt chỉ tiêu giao đến năm 2020, 01 tiêu chí có giá trị bằng 0 (không) và tất cả các tiêu chí còn lại đều đang tăng dần.

 

Kết quả thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp


Báo cáo thực hiện theo Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 19/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí giám sát, đánh giá về cơ cấu lại ngành nông nghiệp đến năm 2020; Quyết định số 816/QĐ-BNN-KH ngày 08/3/2019 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về ban hành Sổ tay hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí giám sát đánh giá cơ cấu lại ngành nông nghiệp đến năm 2020.

 

Cũng theo Báo cáo kết quả thực hiện 6 tiêu chí trên địa bàn tỉnh từ tiêu chí số 9 đến số 14 qua 3 năm 2017, 2018 và 2019 có kết quả như sau.

 

Tiêu chí số 9: Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản được sản xuất dưới hình thức hợp tác và liên kết có chỉ tiêu giao đến năm 2020 là ≥ 20% năm 2017; 2018 và 2019 Bến Tre thực hiện đạt được lần lượt là 11,25%; 14,49% và 14,88%.

 

Tiêu chí số 10: Tỷ lệ giá trị sản phẩm nông lâm thủy sản được sản xuất theo các quy trình sản xuất tốt (GAP) hoặc tương đương định mức đến năm 2020 là ≥ 10%, kết quả thực hiện 8,23%; 8,39% và 10,36% theo thời gian tương ứng 2017; 2018 và 2019.

 

Tiêu chí số 11: Tỷ lệ diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới tiết kiệm nước đạt vào năm 2020 ≥ 20%, Bến Tre đã đạt 11,11% (2017); 19,11%(2018) và 30,62% (2019).

 

Tiêu chí số 12: Tỷ lệ rừng sản xuất được quản lý bền vững có xác nhận đến năm 2020 đạt ≥ 20%, Bến Tre chưa có diện tích rừng sản xuất được quản lý bền vững có xác nhận đến.

 

Tiêu chí số 13: Tỷ lệ nông dân được đào tạo nghề nông nghiệp đạt ≥ 41% vào năm 2020 theo thời gian tương tự như trên Bến Tre đã đạt 11,23%; 23,36% và 33,87%.

 

Tiêu chí số 14: Tỷ lệ nữ trong số nông dân được đào tạo nghề nông nghiệp quy định ≥ 40%, đến nay đạt được 25,48%; 28,94% và 30,38%.

 

Đóng góp của KH&CN tái cơ cấu ngành nông nghiệp


Hoạt động KH&CN đã tích cực đóng góp trực tiếp và gián tiếp vào kết quả tái cơ cấu của ngành nông nghiệp tỉnh nhà với nhiều giải pháp phù hợp với thực tiễn của địa phương, điển hình là đã tiếp nhận chuyển giao và sản xuất giống sạch bệnh bằng công nghệ vi ghép cho cây bưởi da xanh để cung cấp cho nhà vườn; Tiếp nhận chuyển giao thành công 6 quy trình chăn nuôi, phòng trị bệnh, vỗ béo cho bò thuần và bò lai hướng thịt; 01 quy trình trồng cỏ; 01 quy trình chế biến, bảo quản cỏ để phát triển đàn bò tại địa phương.

 

Xây dựng và ứng dụng các giải pháp quản lý truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm heo, bò và tôm biển của tỉnh Bến Tre” và “Xây dựng và ứng dụng các giải pháp quản lý truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm: bưởi da xanh, dừa xiêm xanh, chôm chôm, nhãn và hoa kiểng của tỉnh Bến Tre”. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử gắn với quản lý, khai thác và phát triển 8 sản phẩm chủ lực của tỉnh. Đến nay đã xét, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng Chỉ dẫn địa lý Bến Tre cho 25 tổ chức và cá nhân trên địa bàn, trong đó có 12 tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm dừa uống nước xiêm xanh và 13 sản phẩm bưởi da xanh.

 

Chuyển giao và ứng dụng thành công công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học (compost maker, trichoderma, vi sinh vật chức năng, nấm xanh, E.M) nâng cao hiệu quả xử lý phân chuồng, phế phẩm nông nghiệp, xử lý mùi hôi trong chăn nuôi, phòng chống sâu rầy bằng phương pháp sinh học. Nghiên cứu, ứng dụng sản xuất nấm đông trùng hạ thảo và các sản phẩm chế biến từ nấm đông trùng hạ thảo. Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ sản xuất phân chuồng ủ oai, đất sạch, phân hữu cơ phục vụ nhu cầu cần thiết trong nông nghiệp cho người dân.

 

Hoạt động thúc đẩy sản xuất, kinh doanh nông nghiệp đã được tăng cường như hỗ trợ các tổ chức kinh tế xây dựng và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến theo tiêu chuẩn ISO 22000, HACCP, VietGAP và tham gia Giải thưởng Chất lượng Quốc gia thuộc lĩnh vực nông nghiệp.

 

Xây dựng, đăng ký, công bố, sử dụng, khai thác và phát triển nhãn hiệu dùng như Chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm đặc thù, chủ lực của địa phương.

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Xử lý mặn trên cây ăn trái bằng chế phẩm vi sinh
• Ứng dụng khoa học, công nghệ xây dựng mô hình liên kết trồng và phát triển sản phẩm từ sa sâm nam trên địa bàn huyện Thạnh Phú
• Khởi nghiệp từ nghề làm cây kiểng mai vàng
• Canh tác bưởi da xanh theo hướng hữu cơ sinh học-giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu
• Bà Cao Thị Chiên người không ngừng xây dựng và phát triển tổ hợp tác trồng sầu riêng ấp Hàm Luông
• Hội thảo “văn hóa và văn minh đô thị ở các nước Đông Nam Á trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0” và bài học cho di sản văn hóa Bến Tre
• Một số vấn đề cần quan tâm cho vụ lúa hè thu sau giai đoạn hạn, mặn
• Xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam chuyển giao quy trình kỹ thuật chăm sóc cây bưởi da xanh xen trong vườn dừa theo tiêu chuẩn hữu cơ – PGS
• Hiệu quả bước đầu từ mô hình chăn nuôi gà tàu lai nòi thương phẩm có nguồn gốc
• Khoa học công nghệ - đòn bẩy định vị du lịch Bến Tre trên bản đồ du lịch nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long
• Cách bón vôi hiệu quả và an toàn trong việc rửa phèn, mặn cho vườn cây ăn trái
• Khoa học và công nghệ Bến Tre đổi mới vì một đại dương bền vững
• Đầu tư đối tác công - tư trong khoa học và công nghệ Bến Tre
• Một số giải pháp canh tác lúa khi ảnh hưởng hạn mặn
• Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre quyết tâm xây dựng hợp tác xã điểm