Một số giải pháp canh tác cây có múi trong điều kiện hạn mặn

I. Tác hại của hạn-mặn đối với đất và cây trồng


1. Ảnh hưởng của hạn mặn đối với đất


- Làm thay đổi cấu trúc đất dẫn đến cây bị thiếu dinh dưỡng.

 

- Kích hoạt phèn tiềm tàng trở thành phèn hoạt động gây độc cho cây.

 

- Giảm mật số vi sinh vật có lợi trong đất, cây trồng dễ bị nấm bệnh tấn công.

 

2. Tác hại đối với cây


-  Khi bị khô hạn, cây kém phát triển do rễ cây không hấp thu được nước và dinh dưỡng.

 

- Khi bị mặn, cây héo, cháy rụng lá do thiếu hụt nước trong đất và do áp suất thẩm thấu của đất tăng nên cây không hút được đủ nước và bị ngộ độc muối.

 

- Khi bị hạn, mặn cây phát triển kém, cháy rụng lá, ra nhiều hoa, trái. Mức độ nghiêm trọng của các ảnh hưởng trên tùy thuộc vào nồng độ muối hòa tan trong đất, trong nước, thời gian bị nhiễm mặn và khô hạn mà cây sẽ bị ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng hoặc suy kiệt dẫn đến chết.

 

II. Giải pháp chăm sóc cây trồng trong điều kiện hạn-mặn


1. Trước khi mặn xâm nhập


- Thường xuyên cập nhật thông tin về dự báo tình hình xâm nhập mặn, nồng độ mặn trên các sông, rạch, mương vườn để có hướng xử lý kịp thời nhằm ngăn chặn nước mặn hoặc tranh thủ lấy nước ngọt vào vườn.

 

- Lập hệ thống đê bao chung trong khu vực hoặc từng vườn và cống ngăn mặn nhằm đảm bảo chống ngập khi triều cường, ngăn mặn, trữ ngọt trong mùa khô.

 

- Bố trí mùa vụ thu hoạch tập trung kết thúc trước tháng 2 (dương lịch) hàng năm, để giúp cây giảm nhu cầu nước trong thời gian cao điểm của hạn mặn.

 

- Bón phân lân nung chảy (1-3 kg/cây) và phân hữu cơ vi sinh (5-10 kg/cây) tùy theo cây lớn nhỏ kết hợp bồi bùn.

 

- Bón phân NPK (15-15-15, 12-12-17,...), giai đoạn kiến thiết cơ bản 0,1-0,2 kg/cây; thời kỳ kinh doanh 0,3-0,5kg/cây kết hợp tưới đủ nước cho vườn.

 

- Phủ liếp bằng vật liệu phù hợp như lá dừa, rơm rạ, cỏ, lạc dại, màng phủ,... để giữ ẩm.

 

- Điều chỉnh cây che bóng đạt 30-40%.

 

- Tỉa bỏ các cành vô hiệu để giảm nhu cầu nước, dinh dưỡng.   

 

2. Trong thời gian hạn, mặn


- Thường xuyên kiểm tra độ mặn trên các sông, rạch, mương vườn để lấy nước ngọt vào vườn và tưới nước có độ mặn dưới 1‰.

 

- Sử dụng nguồn nước ngọt trữ trong mương vườn tưới cho cây với hệ thống tưới tiết kiệm nước tưới với lượng tối thiểu mỗi lần, giãn cách giữa các lần tưới sao cho cây không bị héo và đất không bị nứt.

 

- Đậy thêm gốc và liếp vườn với vật liệu có sẵn như lá dừa khô, rơm rạ, lục bình, cỏ khô,… để hạn chế bốc thoát hơi nước.

 

- Nếu cây đang mang hoa, trái; cần tỉa bớt hoặc toàn bộ hoa, trái trên cây để đảm bảo cây không bị suy kiệt.

 

- Không xử lý ra hoa khi không đủ nước ngọt để tưới. Có thể phun luân phiên các loại phân bón lá có chứa Canxi, Silic, lân, kali, đạm như: MKP, KNO3, Hydrophos-Zn, CaSi, Silimax và các chế phẩm chứa Brassinolide (Vitazyme, Nyro 0.01SL, Comcat 150WP, ...), Fetrilon Combi, Super humic giúp cho cây đủ sức vượt qua được tác hại do hạn mặn kéo dài.

 

- Chú ý quản lý một số đối tượng sâu bệnh hại như bọ trĩ, sâu đục trái, nhện (đỏ, trắng, vàng), bệnh vàng lá thối rễ, bệnh thối gốc xì mủ,...

 

3. Sau hạn, mặn


- Khi có nước ngọt trở lại thì tiến hành đánh giá thiệt hại của vườn, đốn bỏ những cây không có khả năng phục hồi. Khai thông nước trong mương vườn, tưới đẫm nước ngọt trên mặt liếp nhằm rửa phèn-mặn tích lũy trong đất, xới xáo mặt liếp để tạo sự thông thoáng cho rễ, thúc đẩy nhanh việc rửa phèn, mặn.

 

 - Kiểm tra pH đất trước và sau khi xử lý vôi (vôi xám, vôi nông nghiệp). Lượng vôi bón tùy thuộc vào độ chua của đất: pH < 3,5 bón 2-5 tấn/ha,  pH từ 3,5-4,5 bón 1-2 tấn/ha, pH từ 4,5-5,5 bón 0,5-1 tấn/ha. Tưới nước liên tục 7-10 ngày để rửa phèn và mặn nhanh.

 

- Kiểm tra độ mặn trong đất bằng máy đo EC: nếu EC cao hơn 1,2 mS/cm cần tiếp tục tưới nước rửa mặn.

 

- 7 - 10 ngày sau khi bón vôi  thì bón phân DAP với lượng 0,1-0,15 kg/cây (giai đoạn kiến thiết cơ bản), từ 0,3-0,5kg/cây (thời kỳ kinh doanh) và 5- 10 kg super humic/ha. Bón xong tưới đủ nước cho vườn cho phân tan thấm vào đất.  

 

- Tăng cường bón  phân hữu cơ ủ hoai có bổ sung nấm Trichoderma sp. và các vi sinh hữu ích (10- 20 kg/cây) hoặc phân hữu cơ vi sinh (3- 5 kg/cây) nhằm bổ sung hệ vi sinh vật có ích cho đất giúp cải thiện cấu trúc đất, tăng khả năng hấp thụ, điều tiết dinh dưỡng, giúp đất tơi xốp, thông thoáng thuận lợi cho sự phát triển của rễ.

 

- Sau khi lá tượt non chuyển sang màu xanh ngà thì bón NPK với tỉ lệ phù hợp theo nhu cầu của cây, trung bình 0,1-0,3 kg (khi cây chưa cho trái) hoặc 0,5-0,8 kg (cây trưởng thành).

 

- Cần tỉa bỏ bớt hoa, trái giúp cây phục hồi sinh trưởng tốt. Việc tỉa cành, tạo tán cần tiến hành khi cây đã hồi phục sau mặn và khi thời tiết đã mát dịu trong mùa mưa.

 

Cần lưu ý các loại sâu bệnh như nấm Phytophthora sp. (thối gốc, chảy nhựa, thối trái), nhện, rệp sáp, sâu ăn lá, sâu đục trái... Tùy theo từng loại sâu bệnh mà áp dụng biện pháp phù hợp để đạt hiệu quả phòng trị cao và an toàn. 

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Một số vấn đề cần lưu ý để có vườn đu đủ năng suất cao
• Lưu ý sâu bệnh gây hại cây bòn bon Thái vào đầu mùa mưa
• Một số ghi nhận từ việc xử lý ra hoa bòn bon
• Kỹ thuật ghép mãng cầu xiêm trên gốc cây bình bát và phòng trừ một số sâu hại trên mãng cầu xiêm
• Một số sâu hại phổ biến trên cây Sapô trong mùa nắng nóng
• Chăm sóc vườn cây có múi trong mùa mưa lũ
• Quản lý một số bệnh thường gặp trên đu đủ
• Phòng trừ rầy phấn trắng và bọ xít muỗi gây hại trên cây ổi
• Phòng trừ sâu bệnh hại cây dâu đầu mùa mưa
• Phòng trừ côn trùng gây hại măng cụt trong mùa nắng
• Bệnh đốm vi khuẩn đang phát triển và gây hại trên xoài
• Phòng trừ nhóm rệp sáp và nhện đỏ hại đu đủ trong mùa khô
• Phòng trừ triệu chứng "da cám" trên xoài tứ quý
• Phòng trừ sâu bệnh hại trên cây bòn bon
• Phòng trừ nhện hại trên cây có múi trong mùa nắng nóng