Xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam chuyển giao quy trình kỹ thuật chăm sóc cây bưởi da xanh xen trong vườn dừa theo tiêu chuẩn hữu cơ – PGS

Hiện nay, diện tích trồng bưởi da xanh trên địa bàn xã Tân Trung được người nông dân trồng với diện tích 125 ha. Qua khảo sát thực tế cho thấy nông dân sản xuất còn manh mún, phân tán theo từng hộ gia đình, chưa tạo sự liên kết giữa các hộ trong khu vực, số lượng thiếu tập trung, chất lượng không đồng nhất, một số yêu cầu về giống, kỹ thuật canh tác, sử dụng phân hóa hóa học chưa thực hiện tốt từ đó sẽ rất khó khăn cho việc tạo ra hàng hóa có tính quy mô, ổn định để có thể tiếp thị, mở rộng thị trường theo hướng sản xuất lớn. Để tháo gỡ khó khăn cho bà con nông dân khi đầu tư sản xuất, vừa qua Hội Nông dân huyện Mỏ Cày Nam phối hợp tổ chức tập huấn ”Kỹ thuật trồng bưởi da xanh xen trong vườn dừa theo tiêu chuẩn hữu cơ – PGS” cho các hộ nông dân trên địa bàn xã. Đến dự lớp tập huấn có ông Nguyễn Chánh Bình Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Bến Tre, các đồng chí Trung tâm Khuyến nông; Bà Nguyễn Thị Xuân Hồng Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Trung cùng với 30 hộ trồng bưởi da xanh trên địa bàn xã đến tham dự.

Quang cảnh buổi tập huấn.

 

Nội dung tập huấn tập trung vào các vấn đề như:

 

1. Dinh dưỡng cho cây bưởi da xanh


* Các nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu bao gồm: Các bon (C), Hyđro (H), Ôxy (O): là các nguyên tố dinh dưỡng thuộc nhóm cây tích luỹ nhiều nhất, chiếm 92% trọng lượng chất khô của cây. Các nguyên tố này có sẵn trong thiên nhiên, cây hấp thụ chúng thông qua nước tưới và khí quyển.

 

 - Nitơ (N), Lân (P), Kali (K), Magiê (Mg), Canxi (Ca), Lưu huỳnh (S) là các nguyên tố dinh dưỡng chiếm 7,4 % trọng lượng chất khô (TLCK) của cây. Đây là các nguyên tố thường không có nhiều trong tự nhiên nên phải quan tâm cung cấp nhiều cho cây trồng bằng phân bón. Trong đó:

 

+ Nitơ (N), Lân (P), Kali (K): Là những nguyên tố thường tích luỹ trong cây với tỷ lệ vài % mà trong đất thường bị thiếu nên cây trồng cần được cung cấp thêm nhiều bằng phân bón. Vì vậy, các nguyên tố dinh dưỡng này là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, các phân chứa các nguyên tố này gọi là phân bón đa lượng.

 

+ Magiê (Mg), Canxi (Ca), Lưu huỳnh (S): Là những nguyên tố chiếm tỷ lệ ít hơn trong cây (khoảng 1 % TLCK), trong đất thường cũng không đủ cho cây trồng. Chúng là những nguyên tố dinh dưỡng trung lượng, các phân chứa những nguyên tố này gọi là phân trung lượng.

 

+ Đồng (Cu), Sắt (Fe), Mangan (Mn), Molipđen (Mo), Bo (B), Kẽm (Zn): là những nguyên tố chiếm tỷ lệ rất ít trong cây (0,6 % TLCK) nhưng có vai trò xác định không thể thay thế, đất cũng thường thiếu. Chúng là những nguyên tố dinh dưỡng vi lượng, phân chứa những nguyên tố này gọi là phân vi lượng.

 

* Dinh dưỡng cho bưởi da xanh thời kỳ kinh doanh:

 

Giai đoạn kinh doanh 6 năm tuổi cây bưởi da xanh cần hàm lượng dinh dưỡng như sau: 1.2 kg N; 1kg P; 1.2 kg K, 1.2 kg Ca, 1.2 kg Mg. Dựa theo tốc độ phát triển của trái nên chia làm 5 lần bón.

 

- Lần 1 sau thu hoạch: 20 kg phân hữu cơ + 1 kg Lân nung chảy + sử dụng 40 lít phân cá 1% + 40 lít K-humat (1kg/800 lít nước).

 

- Lần 2, trước khi ra hoa: 20 kg phân hữu cơ + 1 kg Lân nung chảy + sử dụng 20 lít phân cá 1% + 40 lít K-humat (1kg/800 lít nước).

 

- Lần 3, sau khi đậu trái 1-3 tháng: 10 kg phân hữu cơ + 0.5 kg Lân nung chảy + sử dụng 20 lít phân cá 1% + 40 lít K-humat (1kg/800 lít nước).

 

- Lần 4, thúc trái 4-6 tháng: 10 kg phân hữu cơ + 0.5 kg Lân nung chảy + sử dụng 20 lít phân cá 1% + 40 lít K-humat (1kg/800 lít nước).

 

- Lần 5, trước thu hoạch 1-1,5 tháng: 7 kg phân hữu cơ + 40 lít K-humat  (1kg/800 lít nước).

 

Lưu ý: Đối với việc bón phân cho bưởi da xanh cần thực hiện trước 15-20 ngày vì lượng dinh dưỡng hấp thu chậm.

Ông Thạc Sĩ Lê Trí Nhân- Trung tâm Khuyến nông Bến trao đổi cùng bà con nông dân về dinh dưỡng cho cây bưởi da xanh.

 

2. Ủ phân hữu cơ:


- Phương pháp ủ:


Phân động thực vật có thể tự phân hủy sau một thời gian, tuy nhiên để có chất lượng tốt hơn. Phân hữu cơ cần được kiểm soát bằng các biện pháp kỹ thuật để đảm bảo lượng dinh dưỡng sau khi ủ vẫn giữ được.

 

+ Quy trình ủ: Có 2 phương pháp ủ háo khí và yếm khí


* Phương pháp ủ háo khí: các vi sinh vật sử dụng oxy sẽ tham gia vào quá trình này và nhiệt độ có thể dao động từ 50-60 độ C đôi khi sẽ lên đến 70 độ C. Phương pháp này sẽ cho hiệu quả cao hơn vì trong quá trình ủ này nhiệt độ cao sẽ giúp tiêu diệt các loại nấm và vi khuẩn có hại có trong phân.

 

* Phương pháp ủ yếm khí: quá trình này sẽ sinh các acid hữu cơ không có lợi cho cây trồng như acid lactin và acid butyric. Do đó không nên áp dụng biện pháp này.

 

Sản phẩm phân hữu cơ từ việc ủ háo khí sẽ cho chất lượng phân có pH trung tính giúp cho cây trồng phát triển tốt ngược lại ủ theo kiểu yếm khí sẽ cho chất lượng phân có tính chua làm cây trồng chậm thậm chí không phát triển.

 

+ Sự tham gia của các vi sinh vật trong thời gian ủ phân


Quá trình ủ phân có thể chia làm ba giai đoạn cùng với sự tham gia của các vi sinh vật.

 

* Giai đoạn 1: Nhiệt độ đống ủ bắt đầu tăng cao, đây là giai đoạn sinh nhiệt nhằm giúp diệt các loại mầm bệnh có trong phân. Thời gian và nhiệt độ sẽ phụ thuộc vào tỉ lệ C/N có trong chất lượng phân hữu cơ.

 

* Giai đoạn 2; Đống ủ sẽ chuyển sang giai đoạn làm mát. Đây là thời điểm mà nấm trở nên hoạt động tốt, do đó cần đảo trộn để cung cấp lượng oxy cho hoạt động này đồng thời có thể bổ sung thêm nấm Trichoderma để quá trình diễn ra nhanh hơn. Chất lượng phân hữu cơ về sau sẽ có có nhiều vi sinh có lợi.

 

* Giai đoạn 3: Giai đoạn hoàn chỉnh, giun, mối sẽ có vai trò phá vỡ kết cấu trong đất cho chất lượng tốt nhất của đống ủ.

 

- Lựa chọn vật liệu hữu cơ:


Tùy theo vật liệu đưa vào mà thời gian ủ nhanh hay chậm. Trong ủ phân ta có tỉ lệ C/N (cacbon/nito). Cacbon càng lớn thời gian phân hủy càng lâu, Nito càng lớn thì thời gian ủ càng nhanh.

 

VD: Thời gian ủ của phân bò sẽ lâu hơn so với thời gian ủ của phân heo. Do lượng C của phân bò cao do đây là loài động vật ăn cỏ là chủ yếu. Còn phân heo thì hàm lượng N sẽ cao do đây là loài ăn thức ăn công nghiệp là chính.

 

Trong quá trình ủ thì C sẽ cung cấp năng lượng còn N sẽ cung cấp các acid amin thiết yếu. Tỉ lệ C/N phù hợp 30:1.


 

Những vật liệu không được đưa vào đống ủ: Các loại cây vừa phun thuốc sâu, bệnh và thuốc trừ cỏ. Thịt, cá vụn sẽ thu hút chuột và các côn trùng khác. Cây có nhiều gai, các loại cây sống lâu năm. Vật liệu thô: nhựa, kim loại, thủy tinh.

 

- Các bước ủ phân:


Bước 1: Chuẩn bị vị trí ủ phân. Chỗ khô thoáng, không ngập nước, mặt phẳng. Có mái che để chủ động trong việc ủ phân trong mùa mưa. Thuận lợi cho việc vận chuyển phân từ đống phân ủ đến ruộng sản xuất. Xa khu sinh hoạt, khu tập kết sơ chế nông sản nhằm tránh bị ô nhiễm cũng như hạn chế các loài sinh vật khác như chuột, rắn, mối…

 

Bước 2: Tập kết nguyên liệu. Chuẩn bị các vật liệu theo tỉ lệ như sau:  Vật liệu của các loại cây xanh khoảng 20%. Rơm rạ, mụn dừa, cành cây khô (30%). Phân chuồng (50%). Trong vật liệu xanh sẽ cung cấp nguồn N và C, còn rơm rạ cung cấp nguồn C, còn phân chuồng sẽ cung cấp nguồn đạm cho vi khuẩn phát triển.

 

Bước 3: Sắp xếp các thành phần của đống ủ. Tạo nhiều lớp dày từ 15-25 cm. Lớp đầu tiên gồm những cành cây khô có kích thước nhỏ.Vật liệu này sẽ giúp cho không khí lưu thông và thoát nước tốt. Lớp thứ hai gồm rơm rạ, mụn dừa. Lớp thứ ba là lớp phân chuồng. Lớp thứ tư là lớp vật liệu xanh. Sau đó tưới lên trên đống ủ nước tiểu của động vật hoặc lớp tro để thúc đẩy quá trình ủ phân. Tiếp tục phát triển đống ủ bằng cách đưa các vật liệu theo trình tự trên ngoại trừ lớp cây khô. Lớp cuối cùng vẫn là vật liệu xanh. Kích thước đống ủ tối đa cao 1,5 m rộng 2m. Khi bố trí vật liệu nên đưa từ ngoài vào trong để tránh đống ủ bị sạt đổ.

 

Bước 4: Nước bổ sung cho đống ủ. Tưới đến khi đống ủ đạt ẩm độ khoảng 50-60 %. Kiểm tra bằng cách bóp bằng tay khi có nước rịn ra kẽ tay là đạt yêu cầu.

 

Bước 5: Che phủ đống ủ. Sử dụng bạt hoặc các túi bao may lại với nhau. Mục đích giúp đống ủ không bị bay hơi và rửa trôi do mưa.

 

Bước 6: Kiểm tra đống ủ. Kiểm tra hàng tuần và tưới nước nếu cần. Nếu giữa đống ủ bị khô và có màu trắng phấn cần bổ sung nước để cung cấp ẩm độ cho các vi sinh vật tiếp tục phát triển độ ẩm phù hợp 50-60%. Khi nhiệt độ tăng cao khoảng 60 độ C cần duy trì liên tục 3 ngày để diệt các mầm bệnh có hại. Tiến hành đảo trộn từ 1-2 lần để có chất lượng phân tốt.

 

- Thời gian sử dụng đống ủ. Tùy vào nguồn vật tư đầu vào (tỉ lệ C/N) mà đống phân có thể sử dụng sau 2-6 tháng. Những dấu hiệu nhận biết đống ủ (hoai) có thể sử dụng được: Đống ủ nhỏ lại. Vật liệu không còn nhận ra được so với ban đầu.

 

Buổi tập huấn nhằm trang bị cho bà con nông dân những kiến thức, kinh nghiệm khi chăm sóc cây bưởi da xanh từng giai đoạn bón phân như thế nào là hợp lý đồng thời giúp cho nông dân nâng cao trình độ hiểu biết và kỹ năng sản xuất áp dụng các biện pháp sinh học, phương pháp sản xuất an toàn và ý thức bảo vệ môi trường.

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Thanh niên khởi nghiệp từ mô hình nuôi chim yến phụng
• Sở Khoa học và Công nghệ tổng kết thực hiện đề án xây dựng cơ sở hạ tầng cung cấp nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt
• Khoa học và Công nghệ Bến Tre với ngành tài nguyên và môi trường địa phương
• Kết quả thực hiện đề án phát triển công nghiệp tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 – 2020 và hướng đến năm 2030 của ngành khoa học và công nghệ
• Những vấn đề cần lưu ý trong sử dụng nước tưới cho cây trồng ở giai đoạn hạn hán xâm nhập mặn
• Phát triển bền vững mô hình lúa – tôm và ứng dụng mô hình nuôi tôm hai giai đoạn
• Mô hình nuôi dế thương phẩm mang lại thu nhập ổn định tại Thành Triệu
• Xử lý mặn trên cây ăn trái bằng chế phẩm vi sinh
• Ứng dụng khoa học, công nghệ xây dựng mô hình liên kết trồng và phát triển sản phẩm từ sa sâm nam trên địa bàn huyện Thạnh Phú
• Khởi nghiệp từ nghề làm cây kiểng mai vàng
• Canh tác bưởi da xanh theo hướng hữu cơ sinh học-giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu
• Bà Cao Thị Chiên người không ngừng xây dựng và phát triển tổ hợp tác trồng sầu riêng ấp Hàm Luông
• Hội thảo “văn hóa và văn minh đô thị ở các nước Đông Nam Á trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0” và bài học cho di sản văn hóa Bến Tre
• Một số vấn đề cần quan tâm cho vụ lúa hè thu sau giai đoạn hạn, mặn
• Hiệu quả bước đầu từ mô hình chăn nuôi gà tàu lai nòi thương phẩm có nguồn gốc