Sử dụng công nghệ viễn thám phục vụ công tác thống kê, kiểm kê đất đai và quản lý đất rừng trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Thống kê, kiểm kê đất đai là nhiệm vụ thường xuyên của ngành Tài nguyên và Môi trường (thống kê thực hiện hàng năm, kiểm kê 5 năm/1 lần) nhằm đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá công tác quản lý đất đai và làm cơ sở để quản lý sử dụng đất hiệu quả, cung cấp thông tin, số liệu, tài liệu bản đồ làm căn cứ cho công tác lập, điều chỉnh quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, các dự án phát triển kinh tế - xã hội… Kiểm kê đất đai là việc tổ chức điều tra, tổng hợp, đánh giá qua hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê. Việc điều tra hiện trạng sử dụng đất thực tế có vai trò quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp độ chính xác của kết quả kiểm kê. Quản lý, theo dõi diễn biến của rừng và đất lâm nghiệp là một trong những nhiệm vụ và nội dung quản lý nhà nước được quy định tại Luật bảo vệ và phát triển rừng, là chức năng, nhiệm vụ của ngành nông nghiệp.

 

Năm 2013 tỉnh đã thực hiện đã đo đạc, thành lập Bản đồ ranh giới, mốc ranh giới sử dụng đất rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre. Công trình chỉ thực hiện đo bao để thành lập bản đồ tổng thể chưa xác định cụ thể từng loại đất trong khu vực.

 

Trên thực tế, một số khu vực trong ranh giới đất rừng đã sử dụng vào mục đích khác và trong điều kiện biến đổi khí hậu, dưới tác động của nhiều nhân tố khác (chặt phá, lấn chiếm rừng, xói lở, sử dụng không đúng mục đích …) đã tác động đến hiện trạng đất rừng. Do đó, việc theo dõi hiện trạng, biến động đất rừng một cách thường xuyên là việc làm rất cần thiết. Để đáp ứng nhu cầu thực tế năm 2019, Chi cục Quản lý đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre đã nghiên cứu sử dụng ảnh từ Google Earth để phục vụ công tác thống kê, kiểm kê đất đai và quản lý đất rừng trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

 

Kết quả giải đoán cho thấy trong ranh giới quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng đã xác định 11 dạng mẫu ảnh chính (tương đương 11 loại đất) gồm: Đất rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất), đất rừng kết hợp nuôi trồng thủy sản, đất nuôi trồng thủy sản, đất nuôi trồng thủy sản kết hợp rừng, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất ở, đất ở kết hợp cây lâu năm, đất giao thông, đất sông rạch, đất có mặt nước ven biển.

 

11 mẫu ảnh (tương đương 11 loại đất) trong khu vực của Ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. 

 

Tổng diện tích đất thuộc Ban quản lý rừng là 7.204,1 ha, trong đó diện tích đất rừng là 5.510,4 ha: Đất rừng phòng hộ 2.185,4 ha (trong đó Đất rừng phòng hộ kết hợp nuôi trồng thủy sản 939,0 ha); Đất rừng sản xuất 1.119,6 ha;  Đất rừng đặc dụng 2.205,4 ha (trong đó Đất rừng đặc dụng kết hợp nuôi trồng thủy sản 136,2 ha). Các loại đất khác: Đất nuôi trồng thủy sản 659,5 ha, đất trồng cây hàng năm 378,8 ha, đất trồng cây lâu năm 33,1 ha, đất ở nông thôn 1,6 ha, đất ở nông thôn kết hợp trồng cây lâu năm 10,8 ha, đất sông rạch 320,5 ha, đất giao thông 45,7 ha, đất có mặt nước ven biển 243,7 ha. Ngoài ra, kết quả giải đoán cũng đã xác định được 332,6 ha đất rừng nằm ngoài ranh giới, mốc giới đất Ban quản lý rừng phòng hộ nâng tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh là 5.843,0 ha.

 

Qua kết quả tính toán diện tích từng loại đất trong ranh giới, mốc giới đất Ban quản lý rừng phòng hộ thì diện tích đất được giao cho Ban quản lý rừng sau khi trừ phần đất giao thông thủy lợi là 6.837,9 ha thấp hơn 82,7 ha so với kết quả thống kê năm 2018. Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do kết quả thống kê, kiểm kê chưa cập nhật đúng ranh giới sông rạch theo đúng hiện trạng. Đồng thời, kết quả thống kê đất đai chưa xác định được các loại đất khác nằm xen trong khu vực đất rừng.

 

Như vậy với sự hỗ trợ của công nghệ viễn thám đã tách được các loại đất nằm xen trong khu vực đất rừng giúp cho công tác theo dõi hiện trạng, biến động đất rừng một cách nhanh chóng, thuận lợi, tiết kiệm. Kết quả nghiên cứu cho thấy ứng dụng công nghệ viễn thám đã khắc phục được những khó khăn của việc điều tra thực tế hiện trạng sử dụng đất, tiết kiệm thời gian, nhân lực, kinh phí và tăng độ chính xác của kết quả kiểm kê đất đai nhất là tại các khu vực rộng lớn, điều kiện đi lại khó khăn (khu vực trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, làm muối… tại các huyện ven biển).

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Công bố nhãn hiệu chứng nhận “Xoài Tứ Quý Thạnh Phú”
• Bến Tre triển khai các mô hình sản xuất phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng ven biển Ba Tri
• Hội thảo quản lý chất thải chăn nuôi, các giải pháp chống quá tải hầm khí sinh học và sử dụng khí gas thừa
• Sầu riêng được mùa trong thời điểm hạn, mặn
• Xác định nguyên nhân, dự báo tình hình xâm nhập mặn vào đất và nước tại tỉnh Bến Tre trong điều kiện biến đổi khí hậu-nước biển dâng. Đề xuất giải pháp thích ứng hợp lý
• Giồng Trôm tập huấn chăm sóc cây trồng trong và sau hạn mặn
• Bến Tre có đề tài được tuyển chọn tham gia chương trình hỗ trợ báo chí truyền thông về các vấn đề về thương mại và phát triển bền vững trong EVFTA
• Bệnh viện lao và bệnh phổi sẵn sàng cho công tác phòng dịch
• Nông dân lao đau vì trái cây rớt giá
• Xây dựng và quản lý chỉ dẫn địa lý Bến Tre dùng cho sản phầm dừa uống nước xiêm xanh của tỉnh Bến Tre
• Nghiệm thu đề tài: Nghiên cứu bệnh viêm tử cung trên bò do vi khuẩn gây ra và xây dựng phác đồ điều trị tại tỉnh Bến Tre
• Nghiệm thu đề tài: Xây dựng mô hình thử nghiệm hạn chế rụng lá trên hoa giấy vào mùa mưa
• Giới thiệu phương pháp mới đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất
• Nhóm sáng tạo khởi nghiệp Bến Tre nhiều hoạt động thiết thực hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ trong giới trẻ tỉnh nhà
• Lễ công bố và trao Quyết định bổ nhiệm chức danh Giám đốc và Phó Giám đốc Trung tâm Khoa học và Công nghệ