Kết quả xây dựng nông thôn mới của ngành khoa học và công nghệ Bến Tre năm 2020

Hoạt động Khoa học và Công (KH&CN) trên địa bàn tỉnh Bến Tre năm 2020 thể hiện được vai trò của ngành trong xây dựng nông thôn mới thông qua việc ứng dụng tiến bộ KH&CN, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tích cực góp phần làm đổi thay diện mạo nông thôn.

 

Mục tiêu phát triển sản xuất


Để nâng cao thu nhập cho người dân trong sản xuất nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới, ngành KH&CN đã đẩy mạnh ứng dụng KH&CN vào sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

 

Đầu tiên là kết quả thực hiện đề tài Xây dựng và ứng dụng các giải pháp quản lý Truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm Heo, bò và tôm biển của Tỉnh Bến Tre” đã xây dựng được mô hình truy xuất gồm nhiều mắt xích và cơ sở dữ liệu động, cho phép linh động chuyển đổi cả về tên trường và nội dung để phù hợp hơn với thực tế sản xuất. Xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử sử dụng mã QR cho các sản phẩm Tôm, Bò và Heo trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Lựa chọn một số mô hình tổ chức (doanh nghiệp, Hợp tác xã) thử nghiệm ứng dụng hệ thống tem truy xuất nguồn gốc điện tử. Đề tài đã hỗ trợ in tem, trang bị 600.000 con tem cho các đơn vị, cá nhân, trong đó cụ thể: 200.000 tem in cho con tôm (Hợp tác xã nuôi tôm Mỹ An và Tổ hợp tác Thạnh Phong), 200.000 tem in của con heo (Hợp tác xã nuôi heo Cẩm Sơn, Công ty TNHH MTV Thanh Thêm), 200.000 tem in của con bò (Hợp tác xã nuôi bò Ba Tri – bò giống, Hợp tác xã nuôi bò Ba Tri – bò đứng). Đã tổ chức 03 lớp đào tạo chuyển giao quy trình quản lý, sử dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử tại 03 chuỗi bò, heo và tôm  cho các nhà quản lý, doanh nghiệp, người dân tại Công ty TNHH MTV Thanh Thêm: ấp Tân Thành Hạ, xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre; tại Hợp tác xã nông nghiệp Mỹ An, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; tại HTX Nông nghiệp Mỹ Chánh Bò huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Xây dựng 01 phóng sự phát sóng trên đài Truyền hình Bến Tre; Xây dựng dự thảo ban hành Quy chế quản lý và sử dụng Chương trình Truy xuất nguồn gốc các sản phẩm Heo, Bò và Tôm Biển trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

 

Đề tài Xây dựng và ứng dụng các giải pháp quản lý truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm: bưởi da xanh, dừa xiêm xanh, chôm chôm, nhãn và hoa kiểng của tỉnh Bến Tre đã xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử sử dụng mã QR code cho các sản phẩm chủ lực trên địa bàn tỉnh: bưởi da xanh, dừa xiêm xanh, chôm chôm, nhãn và hoa kiểng; Xây dựng thành công mô hình tổ chức (doanh nghiệp, hợp tác xã) thử nghiệm ứng dụng hệ thống tem truy xuất nguồn gốc điện tử. Chuyển giao 315 tem (1.720.000 mã) cho các đơn vị tham gia; Đào tạo chuyển giao quy trình quản lý, sử dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử cho các nhà quản lý, doanh nghiệp, người tiêu dùng (đào tạo khoảng 135 học viên). Thông tin tuyên truyền việc triển khai ứng dụng phần mềm truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm chủ lực của tỉnh. Xây dựng 01 phóng sự phát sóng trên đài Truyền hình Bến Tre; Xây dựng dự thảo “Quy chế quản lý việc cung ứng và sử dụng tem truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm: bưởi da xanh, dừa xiêm xanh, chôm chôm, nhãn và hoa kiểng của tỉnh Bến Tre”.

 

Ứng dụng KH&CN xây dựng mô hình nhân giống, sản xuất thương phẩm cây Bưởi da xanh, cây cam trên địa bàn tỉnh Bến Tre đã tiếp nhận và làm chủ công nghệ sản xuất: cam sành, cam xoàn và bưởi da xanh vi ghép (cây S0 ) từ  Viện Nghiên cứu Cay ăn Quả miền Nam. Xây dựng 02 nhà màng để trồng, chăm sóc, quản lý dịch bệnh cây S1, thu nguồn nguyên liệu mắc ghép để sản xuất cây giống thương phẩm S2. Xây dựng mô hình nhân giống cây bưởi da xanh, cam sành và cam xoàn quy mô 4.000 m2 với công suất 20.000 cây/năm, đạt tiêu chuẩn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định. Xây dựng mô hình trồng bưởi da xanh với tổng diện tích 20 hecta ở các xã Nhơn Thạnh, Phú Nhuận thành phố Bến Tre, xã An Khánh huyện Châu Thành; 10 hecta trồng cam sành và cam xoàn ở xã Tân Phú Tây huyện Mỏ Cày Bắc.

 

 Xác định nguyên nhân, dự báo tình hình xâm nhập mặn vào đất và nước tại tỉnh Bến Tre trong điều kiện biến đổi khí hậu-nước biển dâng đề xuất giải pháp thích ứng hợp lý, nghiên cứu xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính để đánh giá sự phụ thuộc và biến đổi của độ dẫn điện đất vào các độ dẫn điện nước trong đất và sông/rạch và đánh giá sự phụ thuộc và biến đổi của độ dẫn điện nước trong đất vào các độ dẫn điện đất và sông/rạch. Từ kết quả mô hình hồi quy tuyến tính trên, đã đưa ra nhận định nguyên nhân nhiễm mặn đất và nước trong đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Từ đó đã đề xuất thực hiện các giải pháp công trình ngăn chặn xâm nhập mặn kết hợp với chuyển đổi cơ cấu trồng cây ăn trái phù hợp với xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu-nước biển dâng.

 

Đề tài Đánh giá và phát triển mô hình cây trồng vật nuôi phù hợp trong điều kiện biến đổi khí hậu tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã đánh giá được thực trạng đất nước và mô hình cây trồng vât nuôi hiệu quả của huyện Thanh Phú (09 mô hình được nông hộ lựa chọn tiếp tục mở rộng bao gồm 02 mô hình trồng trọt (dừa, xoài tứ quý), 03 mô hình chăn nuôi (dê, gà, bò), 02 mô hình thủy sản (tôm càng xanh, tôm thẻ công nghiệp) và 02 mô hình kết hợp (tôm sú – lúa và tôm càng xanh-lúa). Xây dựng được bản đồ số (tỉ lệ 1/25.000) phân bố mô hình cây trồng vật nuôi hiệu quả và thích ứng biến đổi khí hậu tại huyện Thạnh Phú và đề xuất được các giải pháp quản lý và phát triển mô hình cây trồng vật nuôi hiệu quả theo hướng nâng cao chất lượng và thích ứng biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Thạnh Phú.

 

Ngoài ra ngành KH&CN đã tổ chức xây dựng, công bố, quản lý và phát huy giá trị các chỉ dẫn địa lý đã được chứng nhận; đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh hồ sơ công nhận chỉ dẫn địa lý các mặt hàng nông sản chủ lực khác của tỉnh. Xét, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng Chỉ dẫn địa lý Bến Tre cho 25 tổ chức và cá nhân trên địa bàn, trong đó có 12 tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm dừa uống nước Xiêm Xanh và 13 tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm bưởi Da Xanh.

 

Sử dụng vốn Chương trình xây dựng nông thôn mới


Công tác quản lý, sử dụng vốn ngân sách trung ương và huy động nguồn lực thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, Sở KH&CN phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu trình UBND tỉnh phê duyệt dự án Mứt dừa hữu cơ huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre do UBND huyện Bình Đại chủ trì thực hiện theo Quyết định số 1997/QĐ-UBND ngày 18/8/2020 với tổng kinh phí đầu tư là 2.848.141.300 đồng, trong đó: Ngân sách hỗ trợ từ chương trình Nông thôn mới là 1.429.141.300 đồng; Nguồn kinh phí đối ưng từ đơn vị là 1.419.000.000 đồng.

 

Ngành KH&CN đã tham mưu đề xuất triển khai thực hiện 04 nhiệm vụ KH&CN với tổng kinh phí thực hiện 9,3 tỷ đồng như: Ứng dụng công nghệ Blockchain phục vụ quản lý và phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm đặc sản của địa phương. Đã được phê duyệt dự toán điều chỉnh theo Quyết định số 1720/QĐ-UBND ngày 20/7/2020 của UBND tỉnh; Nghiên cứu sản xuất nhân tạo giống Cua biển (mang chỉ dẫn địa lý) trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Nghiên cứu ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý chuổi giá trị cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Xây dựng cơ sở dữ liệu đăng bạ sở hữu công nghiệp và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

 

KH&CN được đầu tư trước một bước sẽ làm tiền đề và nền tảng vững chắc để thúc đẩy phát triển sản xuất, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nâng cao thu nhập của người dân, thay đổi diện mạo của nông thôn ngày nay và trong tương lai.

 

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Hoạt động khoa học và công nghệ địa phương với công tác thống kê
• Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre khẩn trương cải thiện chỉ số DDCI
• Hoạt động Khoa học-Công nghệ ở Trường Cao đẳng Bến Tre một năm học nhìn lại
• Hội thảo du lịch Châu Thành trên đường trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
• Tân Phú: Tập huấn ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nâng cao năng suất, chất lượng sầu riêng thích ứng biến đổi khí hậu
• Chương trình “nhịp cầu nhà nông”
• Hội thảo khoa học giải pháp nâng cao kỹ năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp cho nông dân Bến Tre giai đoạn 2019 – 2024 tầm nhìn 2030
• Công bố nhãn hiệu chứng nhận “Xoài Tứ Quý Thạnh Phú”
• Bến Tre triển khai các mô hình sản xuất phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng ven biển Ba Tri
• Sử dụng công nghệ viễn thám phục vụ công tác thống kê, kiểm kê đất đai và quản lý đất rừng trên địa bàn tỉnh Bến Tre
• Hội thảo quản lý chất thải chăn nuôi, các giải pháp chống quá tải hầm khí sinh học và sử dụng khí gas thừa
• Sầu riêng được mùa trong thời điểm hạn, mặn
• Xác định nguyên nhân, dự báo tình hình xâm nhập mặn vào đất và nước tại tỉnh Bến Tre trong điều kiện biến đổi khí hậu-nước biển dâng. Đề xuất giải pháp thích ứng hợp lý
• Giồng Trôm tập huấn chăm sóc cây trồng trong và sau hạn mặn
• Bến Tre có đề tài được tuyển chọn tham gia chương trình hỗ trợ báo chí truyền thông về các vấn đề về thương mại và phát triển bền vững trong EVFTA