Bến Tre – điểm nhấn từ diễn đàn hợp tác và phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long

“Diễn đàn phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long” do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức ngày 28 tháng 10 năm 2020 tại Cần Thơ, dưới sự chủ trì của TSKH Nghiêm Vũ Khải, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội –LHH) Việt Nam; ThS Trương Viết Hùng (Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Cần Thơ) với sự tham dự của trên 100 đại biểu đến từ Liên hiệp Hội các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL: Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau… cùng đại diện các sở, ban ngành, các Trường, Viện, Trung tâm các nhóm nghiên cứu, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ nước ngoài, doanh nghiệp, Hợp tác xã và đại diện 2 cộng đồng nông dân ở Cần Thơ, Sóc Trăng…

 

Trong phát biểu khai mạc Diễn đàn, TSKH Nghiêm Vũ Khải đã nhấn mạnh, vấn đề phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long luôn là tâm điểm của các ngành, các cấp, nhiều chương trình đã đưa ra… nhưng không rõ cụ thể ai làm gì, điều kiện để làm… nên lâu nay dường như vẫn dẫm chân tại chỗ, dù đã từng có Ban chỉ đạo Tây Nam bộ… Do đó đã đến lúc phải “Liệu cơm gắp mắm”, câu chuyện của đồng bằng sông Cửu Long nên chọn điểm nào mấu chốt, chọn việc gì làm có tính khai thông… Trên tinh thần đó, đại biểu diễn đàn đã tập trung thảo luận sâu các lĩnh vực: nông nghiệp, quản lý nguồn nước và chuyển dịch năng lượng bền vững nhằm thúc đẩy sự hợp tác liên vùng cũng như đa bên, đề xuất các sáng kiến, giải pháp và chính sách trong quy hoạch tổng thể và phát triển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

 

Chủ trì Diễn đàn và đại biểu đến từ các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long.  Ảnh: Nhóm STT.

 

ĐBSCL là vùng đất rộng lớn chiếm 13% diện tích (40.547 km2), 18% dân số cả nước (gần 17,3 triệu người), mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng lượng tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam: đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu; có vị trí thuận tiện trong giao thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mê Công. Với vị thế chiến lược, thời gian qua ĐBSCL đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai nhiều giải pháp để phát huy tiềm năng, lợi thế, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội ĐBSCL. Đặc biệt là từ sau Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL, toàn vùng đã có sự phát triển rõ rệt, đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Cơ sở hạ tầng từng bước được đầu tư đồng bộ, đảm bảo phục vụ tốt hơn cho các hoạt động kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện; đã khẳng định được vị thế là trung tâm sản xuất, xuất khẩu lúa gạo, thủy hải sản và cây ăn quả hàng đầu của cả nước, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, mang lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể phục vụ phát triển đất nước.

 

Tuy nhiên, trong những năm gần đây do thiếu hụt cả nước sông Cửu Long và nước mưa, sự vận hành của các chuỗi đập thủy điện và các yếu tố tăng cường như: nước biển dâng, sự sụt lún của đồng bằng, sự xâm nhập mặn… diễn ra ngày càng gay gắt hơn, các yếu tố tác động của biến đổi khí hậu, khai thác nguồn nước xuyên biên giới và các hoạt động nội tại làm cho đặc điểm thủy văn dòng chảy của sông Cửu Long thay đổi, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống, sinh kế và sự phát triển bền vững toàn vùng ĐBSCL. Câu chuyện hạn và xâm nhập mặn năm 2020 ở Bến Tre đến sớm và sâu hơn so với năm 2016 là một minh chứng thực tế đáng quan tâm. Trong phần trình bày báo cáo đề dẫn của PGS.TS. Lê Anh Tuấn, Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu, Trường Đại học Cần Thơ có nhan đề “Diễn biến lũ lụt và tình trạng khô hạn ở ĐBSCL trong 20 năm gần đây” đã tập trung phân tích, đề xuất chính sách cho việc bảo tồn và sử dụng nước ở ĐBSCL; trong đó vấn đề nước ngọt cho Bến Tre là một tiêu điểm được đông đảo đại biểu quan tâm. Theo PGS.TS. Tuấn khuyến nghị đưa ra cho Bến Tre là không nên xây dựng các hồ chứa nước lớn qui mô hàng chục triệu m3 bởi hồ dạng này có khả năng rút nước chung quanh gây khô hạn cục bộ, đó là chưa kể khi đào mới hay nạo vét đến tầng sâu trên 2 m sẽ đưa 1 khối lượng lớn đất phèn lên trên mặt đất, dẫn đến tình trạng gia tăng acid hóa, gây ngộ độc vi sinh vật cả đất và nước… Do đó chỉ cần làm các hồ chứa nước nhỏ và vừa (dung tích dưới nửa triệu m3) với kỹ thuật lót bạt nylon chống thấm rút rất hiệu quả và kinh tế, hồ nhỏ phân tán trong các mương vườn, bưng, đìa… sẽ hợp lý và tiết kiệm hơn. Cũng theo PGS.TS. Lê Anh Tuấn, cần quan tâm bảo tồn các vùng trũng, thấp, đất ngập nước… mà theo ThS. Phạm Văn Luân, trường Cao đẳng Bến Tre, chính đây là nơi chứa nước rất tốt và góp phần cân bằng sinh thái. Cũng theo ThS Luân, trước đây Tp Bến Tre có nhiều diện tích có thể trữ nước mưa dạng này như các ao Sen chợ Chùa, các ao sen trong khu vực Hậu cần, tỉnh Đội cũ, nay những nơi này đều không còn, thay vào đó là các khu chung cư, đô thị mới…đây cũng chính là nguyên nhân gây ra ngập nước sau mưa lớn ở nội ô Tp Bến Tre hiện nay do hệ thống thoát nước không đảm bảo, trong khi đó đến mùa khô thi bị khô hạn, nóng bức.

 

Tiếp sau câu chuyện nước ngọt, tại Diễn đàn, TS. Đặng Kiều Nhân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL, Trường Đại học Cần Thơ trình bày tham luận “Thách thức trong xu hướng chuyển dịch nông nghiệp ở ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu” đã phân tích và đưa ra những vấn đề nổi cộm cần quan tâm trong quá trình chuyển dịch nông nghiệp mang lại hiệu quả tích cực trong sản xuất, trong đó vấn đề tương tác sử dụng nước trong vùng cũng được đặt ra, theo TS Nhân, hiện có sự mâu thuẫn hiệu quả sử dụng nước: - nước mặn – nước ngọt; - nước lợ – nước mặn; - nước mặt – nước ngầm. Đây là vấn đề cần quan tâm đầu tiên khi chuyển dịch nông nghiệp, bài toán kinh tế đặt ra khi vụ hè thu để làm ra 1 tấm lúa, nông dân thượng nguồn như An Giang phải dùng 0,5 mvới giá 5.000 đ, trong khi cuối nguồn như Bến Tre nông dân phải mua 100.000 – 120. 000 đ 1 m3 để  tưới cây.

 

Về “Định hướng quy hoạch tích hợp ĐBSCL đến năm 2030 và tầm nhìn 2050” trong bài trình bày của TS. Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển tư vấn bền vững tài nguyên nước và biến đổi khí hậu – CEWAREC, TS. Tứ đã nhấn mạnh, ĐBSCL đã được quy hoạch phát triển bền vững theo Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về việc phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, tuy nhiên TS. Tứ nhấn mạnh đến vấn đề quy hoạch tích hợp ở khu vực đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050, trong đó vấn đề nước cho sinh hoạt và nông nghiệp là trọng tâm.

 

Về năng lượng tái tạo, TS. Cao Văn Hà, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh- GreenID đã trình bày tham luận “Chuyển dịch năng lượng bền vững và công bằng: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, chỉ rõ sự phát triển chuyển dịch sang năng lượng tái tạo đang là xu thế của toàn cầu, tuy nhiên hiện trạng ở nước ta vẫn chỉ ở giai đoạn đầu, TS. Hà khuyến nghị các vấn đề liên quan hướng tới chuyển dịch năng lượng bền vững và công bằng như: các cơ quan truyền thông, các tổ chức khoa học – công nghệ, các tổ chức xã hội cần tích cực phổ biến thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức cho công chúng về những cơ hội, lợi ích cũng như thách thức khi chuyển dịch năng lượng.

 

Ngoài ra, tại diễn đàn, bà Trần Thanh Nga, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình bày tham luận về “Quá trình xây dựng Sáng kiến đối tác đóng góp do quốc gia tự quyết định và Kế hoạch hành động quốc gia nhằm thực thi Hiệp định Paris tại Việt Nam”;  TS. Nguyễn Phú Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển Nông thôn bền vững- SRD trình bày tham luận “Cơ hội và những vấn đề đặt ra của ngành nông nghiệp nước ta khi tham gia vào Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA), thích ứng và biến đổi khí hậu”.

 

Tổng kết Diễn đàn, TSKH. Nghiêm Vũ Khải, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đánh giá cao ý kiến tham luận và kiến nghị của đại biểu khẳng định phải cần tăng cường vai trò điều phối của cơ quan quản lý nhà nước và sự đóng góp tích cực của các tổ chức xã hội, tổ chức khoa học và công nghệ trong tổ chức liên kết vùng và hợp tác đa bên nhằm phát triển bền vững ĐBSCL như: Phục hồi khả năng hấp thụ và lưu trữ nước ở 02 vùng trũng lớn nhất ĐBSCL Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, song song với các vận động từng bước cắt bỏ lúa vụ 3 và chuyển hướng sản xuất nông nghiệp phù hợp; khuyến khích làm các hồ chứa nhỏ và vừa và phân tán trong các mương vườn, vùng lung đìa… Hạn chế  khai thác nước ngầm, việc bổ cập nhân tạo nước ngầm là cần nhưng cũng phải rất thận trọng; Lọc nước biển thành nước ngọt có thể thực hiện nhưng cân nhắc chi phí; Khuyến khích các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm, sử dụng nước tuần hoàn kết hợp với chuyển đổi cơ cấu sử dụng nước ngầm, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng thuận thiên...  đây là những nội dung chính diễn đàn đã đúc kết được TSKH Nghiêm Vũ Khải tổng hợp và khẳng định, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam sẽ tổng hợp đề xuất cơ quan có chức năng xem xét nhằm tạo ra bước phát triển mới và bền vững cho toàn vùng ĐBSCL.

 

Vũ Thị Bích Hợp, Giám đốc Trung tâm Phát triển Nông thôn bền vững – SRD (thứ 5 từ phải) tham vấn với các Viện, Trung tâm ở Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Cần Thơ,  Liên hiệp Hội tỉnh Cà Mau và nhóm STT Bến Tre. Ảnh nhóm STT.

 

Bên lề diễn đàn, bà Vũ Thị Bích Hợp, Giám đốc Trung tâm Phát triển Nông thôn bền vững – SRD đã có cuộc tham vấn với các Viện Nghiên cứu, Trung tâm ở Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Tp Cần Thơ, nhóm Sáng tạo Khởi nghiệp Bến Tre (STT) và Liên hiệp Hội tỉnh Cà Mau – địa bàn Trung tâm SRD sắp triển khai dự án về rừng ngập mặn ở ĐBSCL, trong buổi tham vấn, ThS. Phạm Văn Luân đã thông tin về tình hình hạn, mặn mùa khô 2020 ở Bến Tre, mô hình lọc nước sinh học, các sinh kế dựa và rừng ngập mặn... được các đại biểu quan tâm. Bà Vũ Thị Bích Hợp, Giám đốc SRD cho biết rất quan tâm và chia sẻ với Bến Tre. Trong năm 2021 khi triển khai dự án ở Cà Mau Trung tâm sẽ kết nối hỗ trợ nâng cao năng lực cho các cộng đồng ở Bến Tre ở những hợp phần phù hợp nhằm giúp Bến Tre thích ứng chủ động với biến đổi khí hậu, nhất là giải quyết vấn đề cung cấp nước sinh hoạt, nước cho sản xuất cho người dân trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, hạn hán và nước biển dâng ngày càng phức tạp.

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Tập huấn kỹ thuật ủ phân hữu cơ vi sinh từ phụ phẩm nông nghiệp và xử lý rác thải hữu cơ hộ gia đình
• Trung tâm Khoa học và Công nghệ tổ chức tập huấn hướng dẫn sử dụng chế phẩm E.M trong chăn nuôi cho nông dân
• Tập huấn chương trình “mỗi xã một sản phẩm (Ocop)” năm 2020
• Du lịch văn hóa tâm linh ở Bến Tre - hiệu ứng từ một hội thảo khoa học
• Khoa học và công nghệ Bến Tre đồng hành quản trị rủi ro cùng doanh nghiệp
• Bí thư Huyện ủy Lê Văn Khê khảo sát các mô hình ứng dụng công nghệ tại xã Phú Khánh, Thới Thạnh
• Nhiệm vụ khoa học và công nghệ triển khai ở huyện Châu Thành
• Nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực hiện trong năm 2020 trên địa bàn huyện Giồng Trôm
• Hoạt động khoa học và công nghệ địa phương với công tác thống kê
• Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre khẩn trương cải thiện chỉ số DDCI
• Hoạt động Khoa học-Công nghệ ở Trường Cao đẳng Bến Tre một năm học nhìn lại
• Hội thảo du lịch Châu Thành trên đường trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
• Tân Phú: Tập huấn ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nâng cao năng suất, chất lượng sầu riêng thích ứng biến đổi khí hậu
• Kết quả xây dựng nông thôn mới của ngành khoa học và công nghệ Bến Tre năm 2020
• Chương trình “nhịp cầu nhà nông”