Kỹ thuật canh tác giống lúa nàng keo trên nền đất nuôi tôm huyện Thạnh Phú

Lúa Nàng Keo là một giống lúa mùa cổ truyền được người dân  Huyện Thạnh Tỉnh Bến Tre trồng và gìn giữ từ hàng trăm năm. Tên gọi Nàng Keo mang tên của một người con gái như một số giống lúa thơm khác như: Nàng Hương, Nàng Thơm, Nàng Tét, Nàng Gáo… Nàng Keo được trồng nhiều nhất trong vùng canh tác tự nhiên lúa-tôm tại huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre. Do có tính chịu mặn cao, lúa Nàng Keo rất thích hợp với mô hình lúa tôm ở các vùng đất ven biển nơi đất bị ngập nước khi thủy triều lên hoặc bị xâm ngập mặn và mô hình canh tác lúa tôm đang trở thành phương thức canh tác thông minh để thích ứng với biến đổi khí hậu.

 

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LƯU Ý KHI CANH TÁC LÚA TRÊN ĐẤT NUÔI TÔM HUYỆN THẠNH PHÚ:

Huyện Thạnh Phú có đất canh tác bị nhiễm mặn theo mùa, bắt đầu từ cuối tháng 12 đến tháng 7 năm sau với độ mặn biến động từ 2-15 ‰. Tùy thuộc vào lượng mưa hàng năm mà thời gian nhiễm mặn và độ mặn sẽ khác nhau ở từng vùng. Nước ngọt phù hợp để lúa phát triển trong khoảng thời gian từ trung tuần tháng 8 đến tháng 12dl.

Tầng canh tác tích lũy nhiều chất hữu cơ sau mỗi đợt triều dâng (phù sa), nuôi tôm (do thức ăn dư, xác bã thực vật...). Các chất này khi khoáng hóa sẽ là nguồn dinh dưỡng rất tốt cho lúa.

Trồng lúa trong vuông tôm giúp cải thiện môi trường đất từ đó giảm thiểu dịch bệnh trong quá trình nuôi tôm (do các chất hữu cơ được khoáng hóa và cây lúa hấp thu dần trong quá trình canh tác).

Sản xuất lúa có giá thành thấp (do giảm được các khoảng chi phí: không cần cày xới, giảm lượng phân bón và hạn chế đến không sử dụng thuốc BVTV).

Kết hợp trồng lúa với nuôi tôm cá trong ruộng và trồng một số loại cây màu ngắn ngày trong mùa mưa trên bờ bao để tăng thêm thu nhập.

 

KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA NÀNG KEO

1.Thời vụ gieo sạ:

Nàng Keo là giống lúa mùa địa phương thuộc nhóm lúa có thời gian sinh trưởng, trổ bông và thu hoạch theo mùa. Cây lúa chịu được độ ngập sâu dưới 1m, nên thích hợp ở những vùng đất ngập nông hoặc những vùng kiểm soát được nước. Lúa có tính quang cảm phản ứng mạnh với quang kỳ, lúa chỉ trổ trong khoảng thời gian nhất định trong năm vào tháng 11- 12dl. Gieo sạ vào mùa mưa khi nước ruộng bắt đầu ngọt trong tháng 7dl. Thời gian sinh trưởng của giống lúa Nàng Keo phụ thuộc vào điều kiện canh tác, phương pháp gieo sạ và thời vụ xuống giống sớm hay muộn.

2. Chuẩn bị đất:

Sau khi kết thúc vụ nuôi tôm cần điều chỉnh cống cho nước ra vào thường xuyên trên ruộng nhiều lần, dùng nước mưa, nước ngọt trên sông để rửa mặn. Dọn sạch rong tảo trên ruộng, cỏ dại xung quanh bờ, phơi  mặt ruộng.

Đất trồng là đất phù sa ven sông, luân xen canh với vụ nuôi tôm nên xác bã động vật, thực vật phân huỷ tạo nên lớp đất mùn xốp trên tầng đất canh tác, là nguồn dinh dưỡng thích hợp cho cây lúa sinh trưởng và phát triển trong giai đoạn đầu, cho nên đất gieo sạ không cần cày xới, Bón lót phân lân, vôi cải tại đất, phân chuồng ủ hoai… giải độc phèn giúp lúa phát triển tốt ngay từ thời kỳ đầu.

 

Đất mùn xốp trên tầng canh tác sau vụ nuôi tôm.

 

3. Chuẩn bị giống - Kỹ thuật ngâm ủ hạt giống

Giống luá được chọn lọc theo phương pháp truyền thống từ ruộng lúa tốt, không lẫn tạp, không bị sâu bệnh hại, lúa làm giống được thu hoạch, bảo quản, phơi khô và lưu giữ từ vụ mùa năm trước.

- Giống lúa trước khi ngâm ủ cần được phơi qua 3-4giờ trước khi tiến hành ngâm ủ.

Lúa giống ngâm trong nước sạch từ 36-48 giờ (quan sát thấy mầm lúa có màu trắng đục hơi u lên ở mép hạt thì vớt ra rữa sạch hết mùi chua) trước khi đem ủ.

Để ủ giống tôt nhất là dùng bao bố, nếu sử dụng bao nilon phải chọn loại bao có chỉ dệt thưa dễ thoát nước. Lượng lúa giống đổ vào khoảng ¾ bao. Sau đó cột bao sát phần miệng để chừa trống ¼ bao (không cột chặt sát mặt lúa).

Bao lúa giống khi ủ nên đặt nằm, phủ lên một lớp rơm hay đệm ẩm và ủ trong 24 giờ. Sau đó kiểm tra nhiệt độ (đặt tay vào giữa bao hạt giống có cảm giác ấm là thích hợp, nếu có cảm giác nóng phải làm giảm nhiệt, bằng cách tưới xả nước sạch vào bao giống cho đến nước chảy ra dưới đáy bao nguội thì dừng lại). Sau đó, trãi lúa giống ra chỗ khô mát với bề đáy lớp lúa khoảng 2 tấc (dưới lót lưới, trên mặt đậy bằng bao hay đệm ẩm), tiếp tục ủ thêm từ 12-24 giờ nữa. Khi rễ mầm mọc dài khoảng 2-4mm thì tiến hành gieo sạ.

 

Nông dân gieo sạ giống lúa Nàng Keo.

4. Lượng giống-Mật độ gieo sạ:

- Lượng giống gieo sạ thẳng: 30-35 kg/ ha.

- Lượng giống gieo cho nương mạ: 40-50kg/1.000m2 (để cấy cho 1ha đất ruộng).

 Những ruộng không chủ động được nước tưới, độ mặn còn cao, chưa thu hoạch xong tôm vụ trước… Cần chuẩn bị nương mạ trên đất rọc cát (giồng cát) có điều kiện tưới tiêu và chăm sóc tốt để làm nương mạ .

 Nương mạ được cày xới 1 lần, vệ sinh đồng ruộng, làm rảnh thoát nước, bón lót phân chuồng hoai và 10kg lân/1.000m2, sau đó tiến hành gieo hạt.

30-45 ngày sau khi gieo hạt tiến hành nhổ mạ đưa ra ruộng cấy, khoảng cách cấy: 30 x 30cm (cấy 2-3 tép /bụi ).

- Trước khi nhổ mạ 3-5 ngày, tuỳ theo tình trạng cây mạ, có thể bón tiễn chân bằng urê khoảng 4-5kg/1.000m2 mạ.

5. Chăm sóc - quản lý nước:       

 

Ruộng lúa sau khi sạ 3 ngày.

            

Trước khi sạ 1 ngày nên tháo khô nước, Sau khi sạ nếu thấy có khả năng mưa to, nên đưa nước vào ruộng ngập hạt lúa khoảng 3-5 cm để hạt giống không bị vùi trong lớp bùn trên mặt ruộng. Khi trời nắng tốt trở lại thì tiếp tục tháo khô nước ruộng giúp lúa mọc đều (hoặc có thể áp dụng phương pháp sạ ngầm, sạ ngầm cải tiến).

Sau khi lúa đã mọc đều (5 ngày sau khi sạ), cho nước vào và giữ mực nước trên ruộng ở mức 2-5cm.

Sau khi sạ 30 ngày, giữ mực nước sâu khoảng 10-15cm so với mặt ruộng. Đối với những ruộng có nuôi cá có thể nâng lên khoảng 15- 20cm.

Thường xuyên thăm đồng khữ lẫn và loại bỏ cỏ dại từ khi gieo sạ đến trước khi lúa trổ.

Khi cây lúa nảy chồi giao tán (cuối kỳ đẻ nhánh) rút cạn nước ruộng 3-5 ngày để các khí độc trong đất (NH3, H2S, CH4,...) được thoát ra giúp tăng khả năng hoạt động của các vi sinh vật có lợi trong đất, đồng thời kích thích rễ ăn sâu vào đất hấp thu nhiều dinh dưỡng, hạn chế đổ ngã về sau. điều chỉnh mực nước ruộng cho phù hợp với tình hình sinh trưởng và phát triển của cây lúa và mô hình nuôi trồng kết hợp trong ruộng.

Tận dụng các đợt nước triều dâng hàng tháng, kiểm tra chất lượng nước để đưa nước vào đồng ruộng  quản lý sâu hại lúa.

Chủ động đóng cống tưới tiêu nước ngăn mặn xâm nhập vào ruộng. Rút cạn nước mặt ruộng 5-10 ngày trước khi thu hoạch lúa để lúa chín đồng đểu và dể thu hoạch lúa.        

6. Bón phân:

Trên đất nuôi tôm do lớp bùn non rất tốt đủ sức nuôi cấy lúa trong thời gian đầu, lớp bùn hữu cơ sẽ được cây lúa hấp thu hết sau 1 tháng, nên các lần bón sau rất quan trọng,  khi bón phân cần cân nhắc đến điều kiện đất đai, thời tiết và tình hình của cây lúa mà điều chỉnh cho phù hợp.

Bón lót: là lần bón quan trọng giúp cho phân hủy nhanh chất hữu cơ dưới đáy ao tạo nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây lúa trong giai đoạn đầu, nên bón một trong các loại phân có tác dụng cải tạo đất  như phân lân, lân-vôi để rửa phèn, giải độc và nâng cao độ phì cho đất. Bón khoảng 300-400kg vôi (CaCo3) cho mỗi ha vào thời điểm trước khi cấy, sạ 15-20 ngày.

Bón thúc là lần bón chủ yếu, để điều chỉnh độ đồng đều và gia tăng số chồi hữu hiệu. Cần bón đầy đủ và cân đối giữa NPK để giúp cho cây lúa phát triển khỏe và tăng cường tính chống chịu với các điều kiên bất lợi.

Bón thúc 1 (7-10 ngày sau khi sạ): 100kg phân lân +  20-30 kg urê hoặc 50kg NPK (20-20-15).

Bón thúc 2 (45 ngày sau khi sạ): 40 kg ure + 20 kg kali hoặc 70 Kg NPK (20-20-15).

Bón nuôi đồng (khi có tim đèn):  30kg ure + 30kg kali hoặc 30kg NPK( 20-20-15).

Đối với mô hình canh tác lúa hữu cơ: Sử dụng 400kg phân gà hữu cơ chia làm 3 đợt bón (15 ngày, 45 ngày và rước đồng) hoặc nông dân có thể ủ phân hữu cơ đúng phương pháp từ phân chuồng và xác bã thực vật để bón cho ruộng lúa.

 

Cây lúa sinh trưởng trên nền đất nuôi tôm.

 

7.  Phòng trừ sâu bệnh:

- Cần áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật theo nguyên tắc quản lý dịch hại (IPM).

- Xử lý hạt giống trước khi sạ để loại bỏ hạt lép lửng và bảo vệ mầm lúa bằng nước muối 15%.

- Bón lót phân cải tạo đất (có chứa lân, vôi) để hạn chế ngộ độc phèn.

- Khi côn trùng gây hại xuất hiện lúc lúa còn nhỏ, cho nước vào ngập đọt lúa trong vài giờ rồi tháo nước ra (mỗi tháng thực hiện 1-2lần theo nước triều dâng). Khi lúa đã lớn đưa nước dâng cao đến gần cổ lá để che chắn rầy khi có các đợt rầy nâu di trú.

- Thả cá nuôi kết hợp trong ruộng lúa để diệt sâu rầy (dưỡng cá con trong ao 45 ngày, sau khi sạ 30 ngày cho cá vào ruộng lúa) hoặc thả vịt con vào ruộng ăn sâu rầy.

- Khi lúa phát triển đòng, cây lúa đã vươn cao, nếu có sâu hại nghiêm trọng thì có thể sử dụng một số chế phẩm sinh học phun lên ruộng để trừ sâu rầy bọc phát giai đoạn cuối (Bemetent, Ometar,...).

- Đối với bệnh hại lúa: cần theo dõi thường xuyên để phát hiện bệnh sớm và phòng trừ bằng các loại thuốc đặc trị theo hướng dẫn của địa phương.

Khi lúa chín 85-90% thì tiến hành thu hoạch trong tháng 12-1dl.           

 

Mô hình canh tác lúa – tôm.

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Phụ nữ Mỹ Thạnh, Ba Tri với phong trào giúp nhau phát triển kinh tế gia đình vươn lên thoát nghèo bền vững
• Hiệu quả mô hình nuôi tôm rừng sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu tại Bến Tre
• Hiệu quả bước đầu từ việc xây dựng mô hình phục hồi vườn dừa bị thiệt hại do dịch hại sâu đầu đen
• Vật liệu mới và sản xuất tiên tiến xu hướng trong tương lai
• Công nghệ xanh và bền vững
• Hệ thống sản xuất thông minh trong thời đại công nghiệp 4.0
• Bến Tre từng bước phát triển lại vùng nguyên liệu ca cao
• Đồng bộ hóa dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin (ICT)
• Nguyễn Hồ Vĩnh Phúc-Gương mặt trẻ thành đạt
• Sản xuất hoa kiểng ứng dụng công nghệ cao
• Phòng trừ một số sâu bệnh trên nhóm rau ăn trái trong mùa nắng nóng
• Kết quả nuôi thử nghiệm thương phẩm cá bống cát (glossogobius aureus) trong ao tại tỉnh Bến Tre
• Hiệu quả mô hình sản xuất sầu riêng theo hướng hữu cơ
• Lữ Trường An với niềm đam mê nghiên cứu khoa học
• Ba Tri đẩy mạnh phát triển phong trào nuôi tôm công nghệ cao gắn với vùng sản xuất tập trung