Bến Tre thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho khoa học và công nghệ tỉnh

Năm 2020, dù có không ít khó khăn, thách thức nhưng việc giải ngân nguồn vốn sự nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) theo niên khóa là 25.733/25.733 triệu đồng đạt 100% so với kế hoạch. Nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ, xử phạt vi phạm hành chính lũy kế từ đầu năm đến nay là 3.638/ 4,760 triệu đồng đạt 76,43% so với kế hoạch thu năm 2020. Nguyên nhân thu không đạt là do hạn mặn, dịch bệnh COVID-19 và mới tiến hành hợp nhất 3 đơn vị sự nghiệp KH&CN lại thành một.

 

 

Tổng kinh phí toàn xã hội đầu tư cho KH&CN thông qua các nhiệm vụ KH&CN 60.155,275/19.522.000 triệu đồng chiếm 0,31% so với tổng kinh phí đầu tư toàn xã hội của tỉnh, so với năm 2019 thu hút nhiều hơn 12.315,705 triệu đồng (năm 2019 thu hút đạt 47.839,57 triệu đồng), tỷ trọng đầu tư tăng 0,06% so năm 2019 (0,25%); Tỉ lệ đầu tư cho KH&CN từ ngân sách nhà nước (gồm: sự nghiệp KH&CN, sự nghiệp khác, chương trình mục tiêu quốc gia) so với ngoài ngân sách nhà nước 47.233/12.922,275 triệu đồng đạt tỉ lệ 3,7 : 1. Tỉ lệ này gấp 2,47 lần so với chỉ tiêu qui hoạch phát triển KH&CN tỉnh giai đoạn 2020 (3:2).

 

Về cơ cấu nguồn vốn đầu tư, Ngân sách nhà nước 47.233 triệu đồng chiếm 78,52%, ngoài ngân sách Nhà nước 12.922,275 triệu đồng chiếm 21,48%; trong đó: sự nghiệp KH&CN trung ương 9.000 triệu đồng chiếm 15%; Sự nghiệp KH&CN địa phương 25.733 triệu đồng chiếm 43%; Sự nghiệp ngành 3.200 triệu đồng chiếm 5% (gồm nông nghiệp 2.200 triệu đồng và y tế: 1.000 triệu đồng); Chương trình mục tiêu quốc gia (Nông thôn mới) 9.300 triệu đồng chiếm 15%; nguồn vốn từ doanh nghiệp 12.004,275 triệu đồng chiếm 20%; Dự án AMD 855 triệu đồng chiếm 2% và vốn dân tham gia 63 triệu đồng chiếm tỷ lệ nhỏ.

 

Có được thành quả đó là nhờ Bến Tre áp dụng hiệu quả các chính sách ưu đãi, thu hút nguồn lực đầu tư xã hội cho KH&CN.

 

Chính sách tài trợ cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt động KH&CN, trong đó có Quỹ Phát triển KH&CN là một kênh hỗ trợ quan trọng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm đổi mới, tiếp nhận chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp. Nhiệm vụ do doanh nghiệp chủ trì thực hiện được hỗ trợ các chi phí tương tự như nhiệm vụ thực hiện bởi các tổ chức công lập; đối với các đề tài, dự án KH&CN: mức hỗ trợ tối đa lên đến 100% tổng kinh phí; đối với dự án sản xuất thử nghiệm: mức hỗ trợ tối đa lên tới 70% tổng kinh phí. Chính sách tài trợ kinh phí thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cho các doanh nghiệp trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận; huy động nguồn lực của doanh nghiệp cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước để giải quyết các vấn đề KH&CN của doanh nghiệp, đổi mới sản phẩm, tăng năng suất, chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm, hàng hóa.

 

Chính sách thuế

 - Thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập tính thuế: So với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp  năm 2008, thu nhập tính thuế tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013 bổ sung thêm: “kể cả thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật”.

 

- Thu nhập được miễn thuế: Thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại Việt Nam. Khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt nghiên cứu khoa học. Thu nhập từ chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho tổ chức, cá nhân ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Khoản tài trợ cho nghiên cứu khoa học.

 

- Ưu đãi về thuế suất: Áp dụng thuế suất 10% trong thời gian mười lăm năm đối với: Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới, bao gồm: nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật công nghệ cao; đầu tư xây dựng – kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước theo quy định của pháp luật; sản xuất sản phẩm phần mềm; sản xuất vật liệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủy chất thải; phát triển công nghệ sinh học; bảo vệ môi trường; Thu nhập của doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định của Luật công nghệ cao.

 

- Ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế: Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được miễn thuế tối đa không quá bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín năm tiếp theo.

 

Thuế  xuất, nhập khẩu: Luật thuế xuất nhập khẩu 2016 quy định miễn thuế xuất nhập khẩu đối với: Nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để sản xuất của dự án đầu tư thuộc danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp KH&CN, tổ chức KH&CN được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 05 năm, kể từ khi bắt đầu sản xuất; Hàng hóa nhập khẩu là máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư chuyên dùng trong nước chưa sản xuất được, tài liệu, sách báo khoa học chuyên dùng sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, phát triển hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, đổi mới công nghệ.

 

Thuế giá trị gia tăng: Thuế suất 0% đối với máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ. Chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ; chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ; phần mềm máy tính. Thuế suất 5% đối với: Dịch vụ KH&CN theo quy định của Luật KH&CN.

 

Thuế thu nhập cá nhân: Chính sách thuế cá nhân hiện hành quy định giảm 50% thuế thu nhập cá nhân cho nhân lực công nghệ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin; không có các ưu đãi liên quan đến thu nhập trong hoạt động KH&CN khác.

 

Chính sách giảm số thu thuế vào ngân sách nhà nước để khuyến khích hình thành và phát triển hệ thống Quỹ phát triển KH&CN của Doanh nghiệp: Theo quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật KH&CN và các văn bản hướng dẫn: doanh nghiệp được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam được trích tối đa 10% (riêng doanh nghiệp nhà nước phải trích từ 3% đến 10%) thu nhập tính thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp. Cơ chế, chính sách hướng dẫn về trích lập, quản lý và sử dụng quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung khá đầy đủ. Số lượng cũng như quy mô trích lập và sử dụng của quỹ phát triển KH&CN nghệ tại các doanh nghiệp tăng dần hàng năm. Việc trích lập và sử dụng Quỹ KH&CN của doanh nghiệp bước đầu đã giúp giải quyết các khó khăn của doanh nghiệp trong việc bố trí nguồn vốn cho hoạt động KH&CN. Nhiều doanh nghiệp, tập đoàn hàng đầu của Việt Nam đang chuyển hướng chiến lược, đầu tư lớn cho NC&PT công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, thành lập viện nghiên cứu, trường đại học của doanh nghiệp.

 

Chính sách tín dụng: Doanh nghiệp hoạt động KH&CN có thể vay tiền từ các ngân hàng thương mại, hoặc từ nguồn vốn vay ưu đãi của Chính phủ qua hệ thống các Quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách (Ngân hàng đầu tư phát triển, Quỹ phát triển DNNVV, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, các Quỹ KH&CN của các Bộ, ngành, địa phương; Quỹ bảo lãnh tín dụng). Nguồn vốn vay ưu đãi của nhà nước vai trò rất quan trọng trong hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt động KH&CN.

 

Chính sách đầu tư mạo hiểm (ĐTMH): Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, trong đó có quy định hành lang pháp lý cho Quỹ đầu tư khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hoạt động.

 

Chính sách mua sắm công: Mua sắm công là hoạt động mua sản phẩm hoặc dịch vụ của một cơ quan nhà nước. Việc nhà nước mua lại các sản phẩm của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (DNKNST), hoặc ưu tiên mua sắm sản phẩm hình thành từ kết quả hoạt động KH&CN được đánh giá là một trong những chính sách hiệu quả để giúp các DNKNST tiếp cận thị trường và có điều kiện pháp lý thuận lợi để tiếp tục phát triển; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN.

 

Nhà đầu tư thiên thần: Tại Việt Nam cộng đồng nhà đầu tư thiên thần vẫn còn rất nhỏ với hoạt động còn hạn chế và liên kết lỏng lẻo. Các nhà đầu tư thiên thần tại Việt Nam chủ yếu là những doanh nhân thành đạt, một số nhóm hay câu lạc bộ đầu tư thiên thần đang bắt đầu đi vào hoạt động. Các nhà đầu tư thiên thần là nguồn cấp vốn quan trọng cho các DNKNST, đặc biệt là đầu tư ở giai đoạn hạt giống. Hiện tại không có quy định cũng như chính sách ưu đãi nào cho hoạt động đầu tư thiên thần tại Việt Nam. Các nhà đầu tư hiện đang bị đánh thuế vào lợi nhuận từ khoản đầu tư nhưng lỗ trên khoản đầu tư thì không được tính.

 

Chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN: Nhiều chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực KH&CN đã được ban hành và triển khai thực hiện: Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định về chính sách sử dụng, trọng dụng các nhân hoạt động KH&CN, trong đó có các ưu đãi về tuyển dụng, về tạo điều kiện thực hiện các hoạt động nghiên cứu; Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22/9/2014 của Chính phủ quy định về chính sách thu hút các nhân hoạt động KH&CN là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia là người nước ngoài tham gia hoạt động KH&CN tại Việt Nam, trong đó có các ưu đãi về ưu đãi về xuất cảnh, tuyển dụng, tiền lương, nhà ở...; Quyết định số 2395/QĐ-TTg ngày 15/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nhân lực KH&CN ở trong nước và nước ngoài bằng NSNN; Quỹ phát triển công nghệ quốc gia hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu cơ bản chất lượng với kết quả là các công bố quốc tế, và hỗ trợ cho các nhà khoa học tham gia các hội nghị, hội thảo, diễn đàn khoa học quốc tế... Tuy nhiên, những chính sách thu hút nêu trên chưa được triển khai hiệu quả trong thực tế, chưa có tính đột phá trong trọng dụng cán bộ KH&CN trong nước và thu hút trí thức Việt Kiều.

 

Chính sách phát triển nguồn thông tin KH&CN: Nguồn thông tin KH&CN là nguồn lực đầu vào quan trọng phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thực hiện Quyết định số 1285/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển nguồn tin KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đến năm 2025, tầm nhìn 2030 và nhằm xây dựng được một nguồn thông tin ổn định và mang tính hệ thống, liên tục, đủ khả năng đáp ứng các loại nhu cầu thông tin đang ngày càng tăng lên của người dùng tin trong cả nước, Bộ KH&CN đang tiến hành mua các gói: CSDL Scopus cho phép đánh giá năng lực và chất lượng các công trình khoa học theo chuẩn mực quốc tế, xác định chính xác các xu thế phát triển của các lĩnh vực KH&CN trong quá khứ, hiện tại và tương lai cũng như xác định vị trí của từng tổ chức nghiên cứu và của từng quốc gia trong lĩnh vực KH&CN.

 

Chính sách hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ (SHTT): Nhìn chung, hệ thống các văn bản pháp luật về SHTT của nước ta hiện nay đã tương đối đầy đủ và đồng bộ, tạo nên khung pháp lý cần thiết cho việc triển khai hoạt động quản lý nhà nước về SHTT, đăng ký xác lập quyền, hỗ trợ cho việc khai thác, phát triển tài sản trí tuệ, thực thi quyền SHTT, đảm bảo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về SHTT, góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh.

 

Chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”; với mục tiêu:  Xây dựng và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các hệ thống quản lý, mô hình, công cụ cải tiến năng suất và chất lượng; phát triển nguồn lực cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Tạo bước chuyển biến rõ rệt về năng suất và chất lượng của các sản phẩm, hàng hóa chủ lực, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

 

Chính sách hỗ trợ phát triển thị trường KH&CN: Thông qua các sự kiện lớn được tổ chức hàng năm gồm: Chợ công nghệ và Thiết bị (Techmart), Kết nối cung cầu công nghệ (Techdemo), Ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (Techfest), và các sự kiện triển lãm sản phẩm sáng tạo kết nối doanh nghiệp, các sự kiện triển lãm sản phẩm sáng tạo kết nối doanh nghiệp tại các tỉnh thành trên cả nước, các hội nghị về phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN đã tạo lập được diễn đàn kết nối, chia sẻ thành công, khó khăn, vướng mắc trong hoạt động môi giới, xúc tiến thương mại hóa công nghệ, đồng thời là kênh kết nối hiệu quả giữa các chủ thể của thị trường KH&CN đặc biệt là giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, với nhà quản lý, qua đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tìm giải pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp, tổ chức KH&CN, các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức trung gian của thị trường KH&CN.

 

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2030
• Giai đoạn 2021-2025, huyện Thạnh Phú phấn đấu thành lập mới 400 doanh nghiệp
• Lợi ích của tiêm vắc xin COVID-19
• Công cụ hỗ trợ doanh nghiệp cần biết-Ipplatform
• Giồng Trôm: Dự án Woba góp phần xây dựng tiêu chí môi trường trong xây dựng xã nông thôn mới
• Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến chuyển giao công nghệ tỉnh Bến Tre
• Nâng cao tỷ trọng và vai trò của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 – 2025
• Triển vọng Bến Tre gia nhập thị trường tiềm năng các-bon
• Giồng Trôm: Tổ phụ nữ đảm đang xã Hưng Lễ góp phần xây dựng xã nông thôn mới
• Thạnh Phú tập trung công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể
• Thới Thạnh quyết tâm xây dựng thành công xã nông thôn mới nâng cao trong năm 2021
• Những thầy thuốc quên mình vì sức khỏe cộng đồng
• Lấn biển phát triển điện gió ngoài khơi xa Bến Tre
• Đất ngập nước Bến Tre
• Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tạo động lực Bến Tre tăng trưởng từ 2021