Cải tiến kỹ thuật ương tôm càng xanh từ tôm post lên tôm giống trong bể lót bạt

Trong những năm gần đây, tôm càng xanh là một trong những đối tượng nuôi chủ lực trong vùng nước ngọt, lợ (có độ mặn <10‰) đặc biệt là những vùng ngọt hóa của tỉnh. Với những hiệu quả kinh tế thiết thực tôm càng xanh toàn đực mang lại, diện tích nuôi tôm càng xanh của tỉnh năm sau luôn cao hơn năm trước. Đặc biệt, tôm càng xanh được nuôi với nhiều hình thức như nuôi xen trong mương vườn dừa, nuôi bán thâm canh tập trung ở các huyện như Mỏ Cày Nam, Giồng Trôm, Mỏ Cày Bắc, và vùng tôm lúa huyện Thạnh Phú, riêng hình thức nuôi tôm càng xanh bán thâm canh đang phát triển mạnh ở các huyện như Bình Đại, Ba Tri, Mỏ Cày Nam, Thạnh Phú.

Trước đây, đa phần các hộ nuôi tôm thả nuôi con giống có kích cỡ nhỏ khả năng để thích ứng với sự biến đổi môi trường (nắng nóng, xâm nhập mặn,...) không tốt nên tôm dễ bị chết, có tỷ lệ sống thấp nên dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao, gây tổn thất cho các hộ nuôi. Vì vậy, các hộ nuôi tôm càng xanh ở các huyện Bình Đại, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm tiến hành ương từ tôm post lên tôm giống để thả nuôi nhưng tỷ lệ sống khi ương vẫn chưa cao là do khi ương chỉ lấy nước vào bể và tiến hành thả tôm vào ương mà không gây nuôi thức ăn tự nhiên trước khi ương cũng như tạo môi trường tốt cho tôm khi ương nên dẫn đến một số nhược điểm sau:

+ Tỷ lệ sống thấp.

+ Tăng trưởng chậm.

+ Kéo dài thời gian ương.

+ Kích cỡ tôm thu hoạch nhỏ.

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, Trung tâm Khuyến nông Bến Tre xây dựng mô hình: “Cải tiến kỹ thuật ương tôm càng xanh từ tôm post lên tôm giống bằng biện pháp kết hợp tạo thức ăn tự nhiên (moina)”.

Moina chủ yếu sống ở nước ngọt, phát triển mạnh ở những thủy vực giàu chất hữu cơ đang phân hủy. Moina sinh sản đơn tính (vô tính) trong điều kiện môi trường thuận lợi, hữu tính trong điều kiện môi trường không thuận lợi. Moina ăn lọc không chọn lọc nên có thể giàu hóa dinh dưỡng, thức ăn của moina chủ yếu là tảo (lam, lục), vi khuẩn, mùn bã hữu cơ lơ lửng. Moina ăn các loại vi khuẩn, men bia, vi tảo và mùn bã hữu cơ. Moina có giá trị dinh dưỡng cao nhưng phụ thuộc vào độ tuổi và loại thức ăn cho ăn, lượng protein ở moina chiếm 50% khối lượng khô. Moina trưởng thành chứa nhiều chất béo hơn moina non.

Mô hình được thực hiện tại xã Thạnh Trị huyện Bình Đại, với quy mô 300m2, thời gian thực hiện 4 tháng (từ tháng 7/2018-10/2018), trong đó thời gian ương 2 tháng, mô hình có 3 hộ tham gia, khi tham gia mô hình bà con được hỗ trợ 100% con giống với số lượng 150.000 con, mỗi hộ 50.000 con, diện tích mỗi hộ là 100m2, 30% thức ăn với số lượng 15 kg, mỗi hộ được hỗ trợ 5 kg. Ngoài ra, các hộ tham gia mô hình còn được tập huấn kỹ thuật, cấp phát tài liệu, sổ nhật ký ghi chép...  và cử cán bộ kỹ thuật theo dõi mô hình từ khi chuẩn bị bể đến khi kết thúc.

Mô hình được thực hiện nhằm mục tiêu tạo ra nguồn giống có kích cỡ lớn để nuôi, giải quyết nhu cầu con giống của nông dân giúp tăng tỷ lệ sống, năng suất và tăng hiệu quả kinh tế đồng thời giúp nghề nuôi tôm phát triển ổn định và bền vững góp phần thực hiện thành công đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh. Các chỉ tiêu mô hình đề ra: Cỡ giống thả ương: post 1,2cm, kích cỡ khi thu hoạch: 2-3cm, tỷ lệ sống: 60%.   Sau khi chọn hộ xong, tiến hành tập huấn kỹ thuật cho bà con và quy trình kỹ thuật được thực hiện gồm các bước sau:

1. Chuẩn bị bể ương

- Diện tích ương 100m2, tùy theo quy mô từng hộ.

- Bể ương có dạng hình chữ nhật, được xây dựng bằng cách đấp đất trải bạt, chiều cao bể khoảng 80cm và nghiêng 5-7% về phía thoát nước (ống xả Æ 60-90).

- Bể sau khi chuẩn bị xong tiến hành bơm nước vào bể ương, nước bơm vào phải qua lưới lọc để loại bỏ địch hại theo vào bể.

- Tạt vôi (CaO) với liều lượng 5kg/100m2 giúp lắng tụ phù sa, chất lơ lững.

- Sau 3 ngày tiến hành gây màu bằng phân hữu cơ NPK và kết hợp thức ăn công nghiệp số 0.

- Khi tảo phát triển tiến hành cho moina vào bể ương, moina được vớt ở các thủy vực ngoài tự nhiên bằng vợt có kích thước mắt lưới 50-150µm rồi cho vào bể để gây nuôi, với mật độ ban đầu là 10 cá thể/lít nước, thức ăn sử dụng gây nuôi moina là thức ăn công nghiệp (số 0) có hàm lượng đạm 42%, liều lượng 200g/100m2, cho ăn lần 2 sau ba ngày thả nuôi.

- Các yếu tố môi trường thích hợp để moina phát triển là: pH 7-8, DO 3-3.5mg/L, nhiệt độ 26-30oC.

- Lắp đặt hệ thống thổi khí 8 - 10 vòi thổi khí cung cấp oxy cho moina phát triển và cho tôm khi ương(tùy theo mật độ ương).                  

- Sau 7-10 ngày ương, kiểm tra mật độ moina tăng lên 50 cá thể/L nước  bắt đầu tiến hành thả tôm vào ương.

- Cách kiểm tra mật độ moina:

+ Bằng cảm quan.

+ Được xác định bằng cách lấy 3–5 mL mẫu, cố định với dung dịch cồn 70% và đếm tất cả Moina trong đĩa petri bằng kính hiển vi.

- Thả giá thể vào tạo nơi trú ẩn cho tôm (tàu dừa). 

 

image
Bể ương tôm.

 


2. Thả giống

- Giống: giống tôm càng xanh toàn đực.

- Con giống khỏe mạnh, không nhiễm bệnh, không bị xây xát, có kích cỡ tương đối đồng đều.

- Bao chứa tôm giống chuyển về được cho vào bể để thuần hoá nhiệt độ khoảng 15 phút mới thả tôm ra bể ương.

- Thời gian thả tôm là sáng sớm.

- Mật độ thả ương: 500 con/m2.

 

image
Tôm bột.

 

 

3. Chăm sóc, quản lý

- Thức ăn cho tôm là thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 40% và thức ăn gây nuôi sẵn trong bể ương để hạn chế làm dơ nước bể ương.

- Ngày cho tôm ăn 3 lần (sáng 6 -7giờ, trưa 10-11 giờ, chiều 16-17 giờ), số lần cho tôm ăn theo phương pháp ương này ít hơn so với phương pháp ương củ 1 lần/ngày, lượng thức ăn cho tôm ăn 40g/10.000tôm/ngày và tăng dần theo thời gian ương.

- Cách cho tôm ăn: thức ăn cho tôm ăn trong suốt quá trình ương là thức ăn mãnh nên cần pha nước tạt đều xung quanh bể cho tôm ăn.

- Để đảm bảo oxy cung cấp cho tôm, máy thổi khí phải được hoạt động 24/24 giờ.

- Giữ mức nước trong bể 0,7m.

- Hàng ngày kiểm tra xung quanh bể ương xem có địch hại vào bể đẻ không để vớt trứng và loại bỏ ổ trứng.

- Theo dõi khả năng bắt mồi của tôm để điều chỉnh thức ăn cho phù hợp không để dư thừa hoặc thiếu thức ăn vừa gây lãng phí, dơ nước vừa làm tôm chậm lớn và phân đàn.

- Thường xuyên kiểm tra hệ thống thổi khí, bảo đảm việc thổi khí liên tục ban đêm.

- Định kỳ 7-10 ngày thay nước một lần, mỗi lần thay từ 20-50% tùy theo màu nước và thời gian ương.

- Sau mỗi lần thay nước, mưa lớn cần tạt vôi vào bể để giúp ổn định môi trường bể ương tránh gây sốc tôm.

- Thay giá thể mới để tôm trú ẩn khi thấy giá thể bị tảo và lab lab bám vào.

4. Thu hoạch

- Sau 2 tháng ương thì tiến hành kéo chuyển sang ao nuôi thương phẩm. 

- Trước khi thu hoạch 1 ngày thay 70%

nước để kích thích tôm lột xác.

- Trước tiên xả bớt nước trong bể sau đó dùng lưới kéo và dùng vợt mịn để vớt tôm, để thu hết toàn bộ tôm bằng cách xả lỗ thoát nước của bể để thu tôm.

Kết quả đạt được của mô hình: sau 2 tháng ương tôm đạt kích cỡ từ 3-5cm lớn hơn so kế hoạch là 2-3cm, tỷ lệ sống đạt 75% cao hơn so kế hoạch đề ra 60%, tỉ suất lợi nhuận bình quân khoảng 60%.

Qua thực hiện nhận thấy quy trình kỹ thuật áp dụng cho mô hình là phù hợp, dễ áp dụng, dễ thực hiện, tuy nhiên hiệu quả của mô hình đem lại là khá lớn và người tham gia thực hiện xong mô hình có thể truyền đạt cho những người có nhu cầu ương, nuôi đối tượng này. Đáp ứng kịp thời con giống cho các vùng nuôi có thời gian ngọt hóa ngắn.

Tin tức khác cùng chuyên mục
• Sa sâm Việt – Hành trình khởi nghiệp sáng tạo
• Làm mới sản phẩm từ dừa – Khởi nghiệp thành công
• Thủ công mỹ nghệ từ gỗ dừa – Hàng “độc” và lạ
• Bến Tre tham gia xây dựng khung kế hoạch tầm nhìn quốc gia thích ứng biến đổi khí hậu 2021-2030, tầm nhìn 2050
• Khởi nghiệp từ dịch vụ chứng nhận sản phẩm, hệ thống quản lý
• Cần phải đăng ký những gì khi đưa sản phẩm ra thị trường
• Trường Cao Đẳng Bến Tre đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong sinh viên
• Đánh giá thực trạng và một số giải pháp hướng đến truy xuất nguồn gốc nông sản Bến Tre
• Hiệu ứng hoạt động nghiên cứu khoa học từ đề án làng văn hoá du lịch Chợ Lách
• Sáng tạo trong câu chuyên tiếp thị sản phẩm từ dừa Bến Tre đến với các bạn Hàn Quốc
• Khởi nghiệp với mô hình rượu trái cây
• Huyện Châu thành nghiên cứu khoa học thúc đẩy gắn kết bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá trong quá trình phát triển du lịch
• Giải pháp nào để ứng phó với dịch hại ve sầu
• Hiệu quả từ mô hình trồng rau sạch tại trường tiểu học Tân Thạch B
• Phát triển diện tích trồng mít – Một số vấn đề cần lưu ý