Nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bến Tre”

Bến Tre là tỉnh nằm cuối nguồn lưu vực sông Mê Kông, tiếp giáp biển Đông và được bao bọc, chia cắt bởi nhiều cửa sông lớn chảy qua. Vì vậy, vào mùa khô dễ bị nước biển xâm nhập làm nguồn nước mặt của tỉnh bị nhiễm mặn. Đặc biệt trong những năm gần đây, khí hậu thay đổi thất thường, nguồn nước biến đổi phức tạp, nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng. Mặc khác, hệ thống công trình thủy lợi Bến Tre chưa đồng bộ, khép kín nên nước mặn hoặc triều cường đã xâm nhập vào các vùng ngọt hóa, vùng chuyên canh cây ăn trái, ngập các khu dân cư,…. dù những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên chủ yếu thiên về các giải pháp công trình kiểm soát nguồn nước tổng thể cho một vùng rộng lớn, chưa đi sâu vào các mô hình sản xuất/các giải pháp khoa học công nghệ mới để hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng.

Để có cơ sở khoa học giải quyết các vấn đề tồn tại của hạ tầng thủy lợi nội đồng, phục vụ tốt hơn các mô hình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, hướng đến mục tiêu xây dựng nông thôn mới phát triển bền vững và lâu dài. Trung tâm Nghiên cứu Thủy nông và Cấp nước (Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam) thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bến Tre” vừa được Hội đồng KH&CN chuyên ngành tỉnh nghiệm thu.
 

 Họp Hội đồng KH&CN chuyên ngành tỉnh nghiệm thu đề tài.


Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định cơ sở khoa học và đề xuất được các giải pháp hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp-nuôi trồng thủy sản và phát triển nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Đề xuất 03 mô hình nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thủy lợi mẫu cho 03 xã điển hình (1 xã vùng ngọt, 1 xã vùng lợ, 1 xã vùng mặn) phục vụ chuyển dịch cơ cấu sản xuất và kết hợp phát triển nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bến Tre.

Qua quá trình nghiên cứu, nhóm thực hiện đã đánh giá được hiện trạng hệ thống thủy lợi tỉnh Bến Tre; Đề xuất các giải pháp nâng cấp-hiện đại hóa hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ phát triển các mô hình nông-ngư nghiệp kết hợp xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Một số giải pháp kỹ thuật cụ thể hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ sản xuất kết hợp xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Bến Tre; Mô hình thí điểm nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống thủy lợi phục vụ xây dựng, phát triển xã nông thôn mới trên các vùng sinh thái. Một số giải pháp cụ thể đó là: Bảo vệ bờ bằng công nghệ mềm, thân thiện môi trường, có giá thành rẻ, đảm bảo yêu cầu và có tính thẩm mỹ cao; Giải pháp ngăn mặn vào mùa khô cho vùng lợ tỉnh Bến Tre bằng công nghệ đập thời vụ di động, đây là dạng công trình mới được làm bằng thép; Giải pháp ứng dụng “ngân hàng đất” phục vụ công tác nạo vét kênh rạch, với giải pháp này tận dụng tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên là đất nạo vét kênh rạch, giảm được chi phí và hạn chế tối đa tác động xấu do quản lý nạo vét kênh rạch truyền thống mang lại; Giải pháp cấu trúc hạ tầng cơ sở thủy lợi,….

Ngoài ra, thông qua đề tài nhóm thực hiện đã ứng dụng để thiết kế mô hình mẫu về hệ thống cơ sở thủy lợi nội đồng phục vụ tưới tiêu, cấp thoát nước theo hướng chủ động chuyển đổi cơ cấu sản xuất mùa vụ như: Mô hình hệ thống thủy lợi nội đồng trên tiểu vùng ngọt cho cây ăn quả tại xã Vĩnh Bình (Chợ Lách); tiểu vùng ngọt hóa (tiểu vùng lợ) cho lúa tại xã Tân Thanh (Giồng Trôm) hay tiểu vùng mặn ven biển cho nuôi tôm tại xã Mỹ An (Thạnh Phú).
    
Tóm lại, đề tài thực hiện thành công không chỉ ứng dụng trong thực tiễn, có hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, giải quyết vấn đề nước sinh hoạt, bảo vệ môi trường,… mà còn góp phần thực hiện chủ trương của Chính Phủ về xây dựng nông thôn mới. Theo các thành viên Hội đồng, đề tài còn là tiền đề kêu gọi các dự án đầu tư trong thời gian tới. Để hoàn thiện hơn, Hội đồng cũng đề nghị nhóm thực hiện nghiên cứu cập nhật thông tin liên quan đến kinh tế, hạ tầng, hệ thống thủy lợi, đồng thời phối hợp ngành nông nghiệp đề xuất mô hình canh tác phù hợp giữa hai vụ lúa trong năm.


Kim Tuyền
Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN