Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh Bến Tre

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục nói chung và bệnh HIV/AIDS nói riêng ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe, tính mạng con người và còn là gánh nặng về kinh tế, xã hội. Trong những năm qua, tỉnh Bến Tre có nhiều công tác giáo dục sức khỏe về phòng, chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong cộng đồng nói chung và nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới nói riêng. Tuy nhiên, tình hình nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp, đặc biệt là đối tượng nam quan hệ đồng tính.

Qua ghi nhận từ kết quả vẽ bản đồ tại Bến Tre cho thấy số lượng nam giới đồng tính đang tăng, hiện tại trên 650 nam giới đồng tính, tình hình lây nhiễm HIV trong nhóm này có chiều hướng gia tăng và khó tiếp cận.

Hành vi tình dục đối với người quan hệ đồng tính nam có nguy cơ lây nhiễm cao do họ quan hệ bằng đường miệng, hậu môn, sống trong cuộc sống “riêng” khiến cho những người đồng tính nam khó tiếp cận dịch vụ, cộng thêm với sự kỳ thị của xã hội càng khiến cho họ e ngại, công tác truyền thông còn hạn chế,… dẫn đến tăng khả năng lây lan bệnh tình dục, cụ thể là HIV, Chlamydia, giang mai,… Do đó Sở Y tế tỉnh Bến Tre chủ trì phối hợp với Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Bến tre thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh Bến Tre”.

 Họp hội đồng KH&CN chuyên ngành tỉnh nghiệm thu đề tài.


Mục tiêu của đề tài xác định tỷ lệ hiện nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh Bến Tre năm 2014-2016; Xác định tỷ lệ nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh Bến Tre có kiến thức, thực hành đúng về phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục; Xác định các yếu tố liên quan đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục và liên quan đến kiến thức, thực hành phòng, chống bệnh ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh Bến Tre; Triển khai và đánh giá kết quả can thiệp phòng, chống một số bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh Bến Tre năm 2014-2016.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nam từ 16 tuổi trở lên cư trú tại Bến Tre từ 1 tháng trở lên có quan hệ tình dục cùng giới ít nhất 1 lần trong 12 tháng vừa qua (trừ những người không nghe, không nói được, không tự chủ được hành vi).

Phương pháp nghiên cứu là sử dụng kết quả vẽ bản đồ MSM (Men who have Sex with Men, tạm dịch là nam quan hệ đồng giới nam) tại tỉnh Bến Tre để thu thập số liệu, thành lập nhóm nghiên cứu (10 nhân viên tiếp cận cộng đồng) và tập huấn thu thập số liệu, phỏng vấn bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn, phân tích thống kê số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0.

Thông qua đề tài nhóm nghiên cứu đã thực hiện một số hoạt động như tiếp cận đối tượng thu thập số liệu, phát tờ rơi, tổ chức sinh hoạt nhóm câu lạc bộ MSM, phát bao cao su và chất bôi trơn miễn phí, truyền thông trên mạng xã hội như zalo, facebook,…

Kết quả điều tra trước can thiệp trên 474 đối tượng MSM cho thấy, tỷ lệ nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục qua khảo sát thì HIV là 3,4%, giang mai 0,2% và Chlamydia là 8,9%. Khảo sát sau can thiệp với 466 đối tượng cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV là 3,2%, giang mai 0% và Chlamydia là 1,9%. Tỷ lệ nhiễm ít nhất một bệnh lây truyền qua đường tình dục sau can thiệp giảm so với trước khi can thiệp (4,9% so với 12,0%), p<0,05 (p là ước đoán tỷ lệ nhiệm các bệnh lây qua đường tình dục ở nhóm nam đồng tính). Mẫu nghiên cứu trước và sau can thiệp của các đối tượng chủ yếu là dân tộc kinh, có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên chiếm 90%, nghề nghiệp của các đối tượng phong phú, một số đối tượng phải làm nhiều nghề. Tỷ lệ các đối tượng nghiên cứu chưa lập gia đình khá cao, trước khi can thiệp là 93,9%, sau can thiệp là 88,2%. Đa số các đối tượng tham gia nghiên cứu trả lời chỉ thích bạn tình nam hoặc thích bạn tình là nam hơn nữ. Ngoài ra, các đối tượng mặc dù thích quan hệ tình dục với bạn tình nữ tuy nhiên vẫn có quan hệ tình dục với bạn tình nam.

Sau can thiệp, tỷ lệ nhận bao cao su và chất bôi trơn miễn phí của các đối tượng tăng, kiến thức đúng về phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục tăng (83,7%, trước can thiệp là 49,4%). Theo khai nhận của các đối tượng sau can thiệp cách xử trí bệnh của các đối tượng có chuyển biến tích cực, có đến 81,2% đi khám chữa tại các cơ sở y tế nhà nước (trước can thiệp 19,4%), 25% đến các dịch vụ miễn phí để điều trị và 12,5% đi khám tại các cơ sở tư nhân.

Theo đánh giá của hội đồng KH&CN nghiệm thu, đề tài có tính mới, sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học, nội dung nghiên cứu phù hợp, có giá trị thực tiễn. Hội đồng thống nhất nghiệm thu đề tài và xếp loại xuất sắc.

Kim Tuyền
Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN